Bản tin an toàn Y tế

Thứ năm - 21/11/2019 08:00
AN TOÀN NGƯỜI BỆNH
Nguồn: qpsolution
 
Mặc dù người bệnh rất khó chấp nhận những sai sót và sự cố xảy ra tại các cơ sở cung cấp dịch vụ y tế, song sự cố rủi ro trong y khoa là không thể loại bỏ hoàn toàn. Theo một số nghiên cứu ở các nước mà nền y học đã rất phát triển thì tỉ lệ tai biến y khoa chiếm khoảng 0,4-16% các trường hợp nhập viện..
Sự cần thiết
Môi trường y tế là một môi trường nguy cơ cao – nơi các sai sót có thể xảy ra bất cứ thời điểm nào từ khâu chẩn đoán cho đến điều trị. Có thể khẳng định rằng ở bất cứ công đoạn nào của mọi qui trình khám bệnh, chữa bệnh đều chứa đựng các nguy cơ tiềm tàng cho người bệnh. Hơn thế nữa, tại các cơ sở cung cấp dịch vụ y tế là nơi các thầy thuốc thường xuyên bị áp lực công việc do tình trạng quá tải và áp lực về tâm lý, vì vậy, sự cố y khoa không mong muốn là điều khó tránh và trong nhiều trường hợp ngoài tầm kiểm soát. Khi sự cố không mong muốn xảy ra, cả người bệnh và thầy thuốc đều là nạn nhân, đặc biệt đối với người bệnh phải gánh chịu thêm hậu quả của các sự cố không mong muốn làm ảnh hưởng tới sức khỏe hoặc bị khuyết tật tạm thời hay vĩnh viễn, thậm chí chết người.
Mặc dù người bệnh rất khó chấp nhận những sai sót và sự cố xảy ra tại các cơ sở cung cấp dịch vụ y tế, song sự cố rủi ro trong y khoa là không thể loại bỏ hoàn toàn.
Từ thực trạng trên, một số câu hỏi được đặt ra cho các đồng nghiệp đang công tác trong lĩnh vực y tế, đặc biệt là đang nắm giữ vai trò quản lý:
-Làm sao để quản lý sự cố và rủi ro tại các cơ sở cung cấp dịch vụ y tế?
-Làm sao để sự cố - rủi ro ít xảy ra nhất có thể?
-Làm sao để các sự cố đã xảy ra sẽ được ngăn chặn để tránh sự lặp lại?
-Làm sao để học hỏi từ chính các sự cố đã xảy ra, ngay cả khi xảy ra ở một cơ sở cung cấp dịch vụ y tế khác?
-Làm sao để giải quyết các nguy cơ tiềm ẩn để các sự cố và rủi ro sẽ không xảy đến?
Câu trả lời là phải xây dựng hệ thống quản lý sự cố - rủi ro tại cơ sở với đầy đủ các bước: nhận diện sự cố - rủi ro; báo cáo sự cố rủi ro; phân tích sự cố rủi ro, đề xuất kế hoạch khắc phục, giải quyết; triển khai kế hoạch – theo dõi giám sát việc hoàn tất các kế hoạch đã đề xuất và tổng kết, nhận ra các khuynh hướng nguy cơ để can thiệp kịp thời và loại bỏ các nguy cơ sớm nhất có thể.
Một số khái niệm:
Hệ thống quản lý sự cố:
Hệ thống quản lý sự cố là hệ thống ghi nhận bằng hồ sơ, theo dõi và xác định xu hướng của tất cả các sự cố, các tình huống xung quanh những sự cố đó để quản lý các sự cố một cách phù hợp nhằm kịp thời thực hiện quản lý rủi ro - nguy cơ và cải tiến chất lượng hiệu quả.
Quản lý một sự cố:
Quản lý sự cố là qui trình có tính hệ thống nhằm nhận diện sự cố - rủi ro; báo cáo sự cố rủi ro; phân tích sự cố - rủi ro, đề xuất kế hoạch khắc phục - giải quyết; triển khai kế hoạch; theo dõi giám sát việc hoàn tất các kế hoạch đã đề xuất.
Sự cố:
Sự cố là sự việc xảy ra ngoài hoạt động bình thường của một cơ sở cung cấp dịch vụ y tế hoặc hoạt động chăm sóc thông thường cho một người bệnh cụ thể.
Một số ví dụ các sự cố:
-Người bệnh té ngã.
-Ra chỉ định không hoàn chỉnh gây tác dụng bất lợi cho người bệnh.
-Tổn thương do kim đâm / phơi nhiễm dịch cơ thể.
-Lỗi dùng thuốc.
-Bỏ sót thuốc.
-Thuốc không có sẵn.
-Nhận dạng sai người bệnh.
-Dán sai nhãn mẫu xét nghiệm.
-Phẫu thuật sai bệnh nhân hoặc sai vị trí.
 Phân loại sự cố:
Sự cố đặc biệt nghiêm trọng:
Sự cố đặc biệt nghiêm trọng (sentinel event) là sự cố gây chết hoặc gây tổn thương nghiêm trọng về mặt thể chất / tinh thần không mong muốn hoặc không được tiên lượng trước cho người bệnh hay có thể dẫn đến những rủi ro khác từ các sự cố đó.
Cụm từ “những rủi ro khác từ các sự cố đó” gồm những sai biệt so với qui trình mà nếu tái diễn sẽ có thể dẫn đến khả năng xảy ra tác động bất lợi mang tính nghiêm trọng cao.
Sự cố đặc biệt nghiêm trọng có thể tác động không tốt đến danh tiếng của tổ chức cung cấp dịch vụ y tế. Những sự cố này được gọi là “đặc biệt nghiêm trọng” vì đó là dấu hiệu cho thấy cần phải điều tra và có phản ứng ngay lập tức. 
Ví dụ: tử vong không rõ nguyên nhân hoặc không mong muốn; phẫu thuật sai vị trí, truyền máu sai, người bệnh tự tử...
Hành động tức thời
Trưởng khoa/phòng hoặc bộ phận sau khi được biết về sự cố phải xem xét các hành động khắc phục tức thì đã được thực hiện có phù hợp chưa và điều chỉnh nếu cần thiết. Nếu sự cố có liên quan đến người bệnh, bác sĩ phụ trách điều trị cho người bệnh đó phải được thông báo kịp thời.
Nếu không thể liên lạc được với bác sĩ điều trị hoặc người được chỉ định, bác sĩ phòng cấp cứu sẽ ưu tiên chăm sóc y khoa cho người bệnh.
Điều tra sự cố
Phải điều tra tất cả các sự cố và xác định các yếu tố cấu thành (nếu có). Tất cả các sự cố đặc biệt nghiêm trọng và các sự cố cho thấy có “nguy cơ cao” phải được điều tra bằng cách sử dụng qui trình phân tích nguyên nhân gốc (RCA) và phải có thời hạn hoàn thành điều tra bởi một đội điều tra được thành lập tùy thuộc vào từng sự cố.
Các sự cố có mức độ rủi ro vừa phải và thấp phải được các trưởng khoa/phòng hoặc trưởng bộ phận điều tra. Trưởng khoa/phòng hoặc trưởng bộ phận phải điều tra sự việc khi mới xảy ra sự cố để xác định các yếu tố nguyên nhân, các yếu tố cấu thành và đề xuất giải pháp phòng ngừa trong tương lai.
Đề xuất kế hoạch hành động/giải pháp và triển khai hiệu quả
Sau khi có kết quả điều tra và kết luận sau cùng cho sự cố, kế hoạch hành động và giải pháp sẽ được đề xuất để ngăn ngừa không cho sự cố xảy ra nữa và cải tiến hoạt động của bệnh viện.
Đối với sự cố đặc biệt nghiêm trọng và sự cố có nguy cơ cao, phải có một kế hoạch hành động cụ thể do đội điều tra đề ra.
Kế hoạch hành động sẽ được nhanh chóng triển khai và các trưởng khoa/phòng hoặc trưởng bộ phận phải kiểm tra để đảm bảo các hành động khắc phục phù hợp đã được tiến hành.
Quản lý tất cả các sự cố:
Phải có một nhân viên quản lý tất cả các sự cố tại bệnh viện, đánh số sự cố và cập nhật vào danh mục báo cáo sự cố.
Nhân viên quản lý sự cố phải đánh giá mức độ rủi ro của sự cố dựa vào mức độ nghiêm trọng và tần suất hoặc khả năng tái diễn của sự cố.
Nhân viên quản lý sự cố phải nỗ lực thu thập tất cả các thông tin về sự cố nhằm đảm bảo ghi nhận và hiểu toàn bộ tính chất của sự cố. Xác định các yếu tố nguyên nhân và các yếu tố cấu thành là điều đặc biệt quan trọng vì mục tiêu chung là ngăn chặn sự cố tương tự tái diễn.
Kế hoạch hành động được đề xuất sau khi điều tra xong phải được nhân viên quản lý sự cố hệ thống hóa và theo dõi cho đến khi hoàn tất hết các hành động đó mới đóng (kết thúc) sự cố.
Nhân viên quản lý sự cố phải chuẩn bị báo cáo để trình bày cho ban giám đốc và ban cải tiến chất lượng và an toàn người bệnh, báo cáo phải gồm các thông tin sau:
- Danh sách sự cố mới, phân loại.
- Đánh giá mức độ rủi ro.
- Tình hình điều tra sự cố.
- Tình hình các kế hoạch hành động
 
 
CẢI TIẾN AN TOÀN TRONG VIỆC DÙNG BƠM TRUYỀN DỊCH
(Tài liệu an toàn người bệnh của Bộ Y tế năm 2014)
 
         Thiếu kiểm soát mức độ chảy và không giới hạn dịch truyền và/hoặc thuốc vào cơ thể bệnh nhân sẽ dẫn đến tử vong hoặc thương tổn nghiêm trọng. Cần bảo đảm tất cả các bơm truyền dịch tĩnh mạch thông thường và bơm truyền dịch tĩnh mạch lưu thông thông suốt. Cần bảo vệ bệnh nhân khỏi những hậu quả bất lợi tiềm ẩn liên quan đến việc sử dụng bơm truyển dịch thông thường và bơm truyền dịch bằng cách yêu cầu kiểm soát các dòng dịch truyền tự do bên trong cơ thể.
          Khi sử dụng bơm truyền dịch, cần hệ thống không bao giờ cho phép dịch truyền chảy vào bệnh nhân mà không chảy qua một thiết bị bảo vệ dòng chảy trước đó. Do đó, thiết bị bảo vệ dòng chảy phải được gắn vào bên trong dụng cụ, luôn luôn trong tình trạng sử dụng để đưa dịch truyền từ bơm tiêm vào cơ thể bệnh nhân. Nếu thiết bị bảo vệ chỉ là dụng cụ gắn thêm vào, có thể có hiện tượng sử dụng bơm truyền dịch và bộ điều khiển không có dụng cụ bảo vệ dòng chảy, từ đó có thể tạo ra dòng chảy tự do và dẫn đến thương tổn hoặc tử vong. Vì vậy, thiết bị bảo vệ dòng truyền dịch phải nằm bên trong của chính bơm truyền hoặc bộ điều khiển luôn luôn trong tình trạng sử dụng trong cái bơm. Một dụng cụ bảo vệ gắn thêm vào không nằm bên trong bơm truyền dịch hoặc bộ điều khiển là không đáp ứng yêu cầu.
          Để kiểm tra xem bơm truyền dịch có thiết bị bảo vệ dòng chảy hay không, tắt địện nhưng giữ cho bộ phận truyền vẫn truyền và tải trong thiết bị. Trong khi để tất cả các cái kẹp của hệ thống bơm mở và bình chứa dịch truyền được giữ trên cao đến mức có thể được, phải không có chút dịch truyền nào chảy ra ngoài bộ phận này khi nó treo thẳng đứng. Sau đó, tháo rời bộ phận truyền ra khỏi thiết bị (với các cái kẹp vẫn mở) và một lần nữa kiểm tra rằng hoàn toàn không có dịch truyền nào chảy ra khỏi bộ phận truyền.

/uploads/news/2019_11/he-thong-quan-ly-su-co-rui-ro-tai-co-so-cung-cap-dich-vu-y-te_1.docx

Nguồn tin: BsCKI. Lý Kim Yến - P.Trưởng phòng QLCL

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Liên Kết Website
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây