ÁP – XE PHỔI

Thứ năm - 03/12/2015 13:47
 
  1. ĐẠI CƯƠNG
Áp – xe phổi là sự hoại tử nhu mô phổi gây ra bởi vi khuẩn với thương tổn tạo hang có chứa dịch hay các mảnh mô hoại tử. Dạng tổn thương nhiều ổ áp-xe nhỏ ( < 2cm) đôi khi được xem là viêm phổi hoại tử. Áp-xe phổi và viêm phổi hoại tử có sinh bệnh học giống nhau.
Không phải tổn thương phổi tạo hang nào cũng là áp-xe.
Phân loại áp-xe phổi dựa trên thời gian mắc bệnh và nguyên nhân gây bệnh.
 
Thời gian mắc bệnh
  • Áp-xe phổi cấp tính: từ 4-6 tuần
  • Áp-xe phổi mạn tính: từ > 6 tuần
Nguyên nhân gây bệnh
  • Áp-xe phổi nguyên phát: do hít phải dịch hầu họng hoặc do viêm phổi ở người bình thường.
  • Áp-xe phổi thứ phát: trên bệnh nhân có suy giảm miễn dịch, có sẵn yếu tố nguy cơ (ví dụ: tắc nghẽn, dãn phế quản…) hay lan từ ổ nhiễm trùng ngoài phổi (thường là áp-xe đa ổ)
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 


II. CHẨN ĐOÁN
            Thường gặp nhất là tác nhân yếm khí và > 50% trường hợp bị nhiễm cả tác nhân yếm khí và tác nhân hiếu khí. Đối với tác nhân hiếu khí: thường gặp nhất là streptococci. Ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch: thường gặp Nocardia, mycobacteria hoặc nấm. Ở các nước đang phát triển: có thể do vi trùng lao, nhiễm amíp ( Entamoeba histolytica), bệnh sán lá phổi (paragonimiasis) hay Burkholderia pseudomallei.
            Triệu chứng thực thể: không đặc hiệu với hội chứng đông đặc hoặc ba giảm, sốt cao, có thể nghe ran nổ hoặc tiếng dê kêu (egophony).
            Áp-xe do vi khuẩn yếm khí hoặc vừa yếm khí vừa hiếu khí diễn tiến nặng dần với sốt tăng dần bệnh nhân ho đàm mủ, có thể có máu lượng nhiều hay ộc mủ hôi, vã mồ hôi, sụt cân và mệt mỏi nhiều.
                Áp-xe phổi do vi khuẩn hiếu khí thường có diễn tiến cấp tính và giống như viêm phổi do vi trùng.
 
 
  1. ĐIỀU TRỊ
 
  • Dùng kháng sinh ngay khi thiết lập chẩn đoán.
  • Dung theo kháng sinh đồ khi có kết quả vi sinh.
  • Nghi ngờ do vi trùng Gram âm khi áp-xe xảy ra trên bệnh nhân viêm phổi nặng, suy giảm miễn dịch, mắc phải trong bệnh viện.
  • Nghi ngờ do vi trùng đa kháng trên bệnh nhân có sử dụng kháng sinh phổ rộng trước đó hoặc có ghi nhận có vi trùng đa kháng thường trú ở bệnh nhân.
  • Theo dõi đáp ứng lâm sàng và X quang phổi.
  • Xét đổi sang kháng sinh đường uống khi lâm sàng và X quang cải thiện rõ rệt, bệnh nhân ăn uống được.
  • Thời gian dùng kháng sinh khoảng 6-8 tuần.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
  1. The Merck Manual
  2. http://bestpractice.bmj.com
  3. www.uptodate.com/contents/lung-abscess
  4. British Thoracic Society Pleural Disease Guideline 201

Nguồn tin: KHOA HÔ HẤP LAO

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Liên Kết Website
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây