DÃN PHẾ QUẢN

Thứ hai - 14/12/2015 07:16
I.ĐẠI CƯƠNG
            Dãn phế quản là sự dãn bất thường không hồi phục của một hay nhiều phế quản có kích thước trung bình và tiểu phế quản do hủy hoại cấu trúc đàn hồi và cơ trơn thành phế quản, thường phế quản bị dãn từ thế hệ thứ 4 đến thế hệ 8 hoặc 10.
            Nguyên nhân dãn phế quản có thể do bẩm sinh hay mắc phải làm giảm sức đề kháng tại chỗ của phế quản và nhiễm trùng hoặc ho ra máu tái diễn.
II.CHẨN ĐOÁN
  1. Triệu chứng cơ năng
  • Ho khạc đàm mạn tính thường vào buổi sáng, trong những đợt cấp ho đàm tăng, đàm nhày mủ, thường lẫn máu; điển hình đàm mủ lượng nhiều.
  • Ho máu tái diễn: ho ra máu tái phát nhiều lần và kéo dài trong nhiều năm. Có khi ho ra máu là triệu chứng duy nhất, lượng từ ít đến hàng 100ml mỗi lần (dãn phế quản thể khô).
  • Khó thở: thường nhẹ và vừa, giảm khả năng gắng sức.
  • Đau ngực: kiểu màng phổi thường gặp trong các đợt nhiễm trùng cấp.
    1. Triệu chứng thực thể
  • Nghe phổi ran nổ, ran ẩm ở vùng tổn thương, đôi khi có hội chứng đông đặc.
  • Ran rít có thể gặp trên một số bệnh nhân.
  • Ngón tay dùi trống gặp ở bệnh nhân dãn phế quản giai đoạn nặng suy hô hấp mạn, tâm phế mạn.
    1. Cận lâm sàng
  • X-quang ngực: cần lưu ý X-quang bình thường không loại trừ dãn phế quản. Nếu dãn phế quản có triệu chứng, trên X-quang có thể thấy hình ảnh “tổ ong”, hình ảnh microabcess (nang với mức khí dịch), hình ảnh đường ray xe lửa…
  • Chụp phế quản cản quang bằng Lipiodol, hình ảnh cho thấy phế quản bị dãn hình ống, túi hoặc hình tràng hạt. Đây là tiêu chuẩn vàng chẩn đoán dãn phế quản nhưng ít làm hiện nay do chi phí cao, khó thực hiện và nhiều tác dụng phụ hơn CT Scan.
  • HRCT: giúp chẩn đoán xác định dãn phế quản với độ nhạy và độ đặc hiệu > 90%. Các dấu hiệu có thể thấy là: tỉ lệ đường kính phế quản/động mạch > 1; mất cấu trúc đường kính phế quản giảm dần khi ra ngoại vi; dày thành phế quản; phế quản cạnh màng phổi > 1cm. Hình ảnh trên HRCT được Reil chia làm 3 dạng: (1) GPQ hình trụ (đường ray), (2) DPQ hình tràng hạt (túi) hoặc (3) DPQ hình nang trong lòng có mức khí dịch như những microabcess.
  • Cấy đàm vi trùng, AFB, cấy vi trùng lao, nấm…
  • Đinh lượng IgG, IgM và IgA… nếu nghi nghờ giảm kháng thể bẩm sinh.
  • Công thức máu: Bạch cầu tăng khi có nhiễm trùng phổi, Eosinophil tăng gợi ý nhiễm Aspergilus; thiếu máu mạn khi nhiễm trùng và ho ra máu tái diễn; đa hồng cầu nếu biến chứng tâm phế mạn…
  • Chức năng hô hấp: thường có rối loạn thông khí hỗn hợp (tắc nghẽn và hạn chế) tùy thuộc mức độ dãn phế quản.
  • Điện tâm đồ: thay đổi khi có biến chứng tâm phế mạn.
    1. Chẩn đoán phân biệt
  • Lao phổi.
  • Áp–xe phổi.
  • Dị vật phế quản (dị vật bỏ quên thường gây nhiễm trùng mạn tính và dãn phế quản).
  • Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.
    1. Nguyên nhân
  • Bẩm sinh: William Campbell syndrome, Mounier-Kuhn syndrome, hội chứng bất động trụ long, giảm kháng thể, giảm alpha 1 antitrypsine.
  • Mắc phải: nhiễm trùng ( sởi, ho gà, lao,…), dị vật, u bướu…
    1. Biến chứng
  • Nung mủ tiến triển → mủ màng phổi, áp-xe não, thoái hóa dạng bột.
  • Ho ra máu.
  • Suy hô hấp mạn và tâm phế mạn.
III.ĐIỀU TRỊ
  1. Điều trị nội khoa
Điều trị căn nguyên
  • Điều trị nhiễm trùng, lao.
  • Do thiếu hụt alpha 1 – antitrypsine, thiếu IgG: bù hoàn, thường rất đắt tiền và cần chỉ định ở giai đoạn sớm…
  • Do trào ngược dịch dạ dày thực quản: các thuốc ức chế bơm proton có thể được chỉ định.
  • Do dị vật, do khối u chèn ép, do hạch chèn ép… giải phóng nghẽn tắc, lấy dị vật, cắt u.
  • Do nấm Aspergillus sp: corticoid và/hoặc kháng nấm, Histoplasma capsulatum…
  • Độc chất hoặc thuốc lá…: tránh tiếp xúc.
Điều trị cơ bản
  • Dẫn lưu tư thế, vật lý trị liệu là hết sức quan trọng giúp thông thoáng đường thở, giảm triệu chứng, giảm tái phát đợt cấp.
  • Long đàm: uống nhiều nước và vật lý trị liệu thường có ý nghĩa hơn những thuốc long đàm.
  • Dãn phế quản: khi bệnh nhân có co thắt phế quản.
Điều trị nhiễm trùng
  • Cấy đàm tìm vi khuẩn gây đợt cấp trước khi dùng kháng sinh.
  • Nếu bệnh nhân chưa có tiền sử nhiễm Pseudomonas có thể dùng kháng sinh nhóm betalactam +/- ức chế betamase, quinolone hô hấp.
  • Nếu nghi ngờ Pseudomonas: betalactam +/- ức chế betamase chống Pseudomnas ( piperracillin/tazobactam) +/- Ciprofloxacin.
  • Thời gian dùng kháng sinh tối thiểu 10 – 14 ngày.
  • Ngoài đợt cấp: chủng ngừa cúm, phế cầu, bronchovaxom. Có vài nghiên cứu chứng tỏ Tobramycin khí dung, Azithromycin uống trên các bệnh nhân xơ nang có nhiễm Pseudomonas cải thiện chất lượng sống nhưng dữ liệu chưa đủ giúp khẳng định không có tác dụng phụ hoặc gia tăng đề kháng kháng sinh.
Điều trị biến chứng
  • Ho ra máu ( xem bài điều trị ho ra máu ).
  • Tràn khí màng phổi: xét chỉ định đặt dẫn lưu tùy lượng khí màng phổi.
  1. Ngoại khoa
           Cắt thùy phổi khi dãn phế quản khu trú có biểu hiện: nhiễm trùng hô hấp tái phát nhiều lần, ho đàm nhiều kéo dài làm ảnh hưởng chất lượng cuộc sống; và/hoặc ho ra máu thất bại điều trị nội khoa, gây suy hô hấp và thiếu máu nghiêm trọng.
  1. Điều trị dự phòng tiên phát dãn phế quản
  • Dãn phế quản là hậu quả chủ yếu của nhiễm trùng hô hấp ( lao phổi, ho gà, sởi, mycoplasma, virus,…) do đo, điều trị sớm nhiễm trùng hô hấp và chủng ngừa đóng vai trò quan trọng.
  • Cải thiện môi trường sống và làm việc: bỏ hút thuốc lá, tránh khói thuốc lá, môi trường khói bụi, cải thiện dinh dưỡng, khám sức khỏe định kỳ phát hiện và điều trị sớm các bệnh lý phổi giúp ngăn ngừa dãn phế quản, kéo dài thời gian sống và cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

Nguồn tin: KHOA HÔ HẤP LAO

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin cũ hơn

Liên Kết Website
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây