ĐẶT ỐNG DẪN LƯU KHOANG MÀNG PHỔI

Thứ năm - 03/12/2015 13:36
 
  1. ĐỊNH NGHĨA:
Đặt ống dẫn lưu khoang màng phổi là một thủ thuật ngoại khoa làm thoát dịch và khí ra khoang màng phổi nhằm phục hồi tình trạng áp suất âm trong khoang màng phổi.
  1. CHỈ ĐỊNH:
2.1. Tràn khí màng phổi:
  • Tràn khí màng phổi áp lực sau khi đã được giảm bớt áp lực bằng chọc hút khí bằng kim trước đó.
  • Tràn khí màng phổi tái phát hoặc kéo dài sau khi chọc hút đơn giản thất bại.
  • Tràn khí màng phổi lượng nhiều(>20% thể tích1bên phổi) hoặc mọi tràn khí gây suy hô hấp.
  • Tràn khí màng phổi nhiễm trùng.
  • Tràn khí màng phổi toàn bộ.
  • Tràn khí màng phổi ở bệnh nhân đang thở máy.
  • Phương pháp ước tính mức độ tràn khí màng phổi:
Mức độ tràn khí màng phổi(%)=[1-(đường kính phổi)3/(đường kính nửa lồng ngực)3]×100%
2.2.Tràn mủ màng phổi và tràn dịch màng phổi cạnh viêm phổi biến chứng với các biểu hiện của dịch màng phổi:
  • Dịch mủ
  • Glucose < 40mg%
  • pH < 7,20
  • Bằng chứng vi trùng học trên nhuộm Gram.
2.3.Tràn máu màng phổi tiến triển.
2.4.Tràn dịch màng phổi ác tính, tái lập nhanh.
2.5.Tràn dịch màng phổi dưỡngtrấp.
2.6.Tràn khí – tràn máu màng phổi sau chấn thương.
2.7.Đặt ống dẫn lưu sau phẫu thuật lồng ngực ( sau phẫu thuật nội soi lồng ngực hoặc sau phẫu thuật mở lồng ngực)
2.8.Dò phế quản - màng phổi
  1. CHỐNG CHỈ ĐỊNH VÀ ĐÁNH GIÁ CÁC NGUY CƠ:
3.1 Chống chỉ định:
 
  • Trường hợp màng phổi dầy dính toàn bộ nửa thành ngực một bên là chống chỉ định tuyệt đối của đặt ống dẫn lưu màng phổi.
  • Các trường hợp khí nang khổng lồ vùng đáy phổi và sát thành ngực dễ lầm với tràn khí màng phổi.
3.2 Đánh giá các nguy cơ: Một số trường hợp khác thì không có chống chỉ định tuyệt đối, nhưng cần phải cẩn thận đánh giá các nguy cơ và lợi ích đối với đặt ống dẫn lưu màng phổi. Một số nguy cơ cần đánh giá trước khi đặt ống dẫn lưu màng phổi:
  • Mặc dù chưa có bằng chứng nào về rối loạn đông máu và số lượng tiểu cầu tác động đến biến chứng chảy máu của đặt ống dẫn lưu màng phổi, nhưng bất cứ một bệnh lý về máu hoặc giảm tiểu cầu nên xử trí, điều chỉnh cho hợp lý trước khi đặt ống dẫn lưu màng phổi. Do đó, đối với bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ cần đếm tiểu cầu và thời gian prothrombin.
  • Cần đánh giá cẩn thận trên X-quang phổi có biểu hiện “trắng xóa” một bên phế trường nhằm chẩn đoán phân biệt giữa xẹp phổi và tràn dịch màng phổi.
  • Đặt ống dẫn lưu màng phổi vào các khoang trống lồng ngực sau phẫu thuật cắt phổi chỉ nên được thực hiện bởi phẫu thuật viên ngoại lồng ngực hoặc sau khi đã tư vấn với phẫu thuật viên ngoại lồng ngực.
  • Nếu có thể, nên tránh đặt ống dẫn lưu màng phổi tại các vùng da đang mắc bệnh.
  1. VỊ TRÍ ĐẶT ÔNG DẪN LƯU:
4.1 Tràn khí màng phổi:
  • Kinh điển: vị trí khoảng gian sườn II theo đường trung đòn thỉnh thoảng được chọn nhưng không thường qui, vì dễ gây khó chịu cho bệnh nhân, không có thẩm mỹ và để lại xẹo xấu, nhất là thực hiện trên phụ nữ. Ngoài ra, có thể có nhiều tai biến trong thủ thuật nhất là gây tổn thương động mạch, tĩnh mạch dưới đòn.
  • Ngày nay, vị trí khoảng gian sườn III, IV, V, VI theo đường nách trước, giữa, sau. Các vị trí này ít nguy cơ gây tổn thương những cấu trúc cơ bản như động mạch vú trong, cơ thành ngực và mô vú.., tránh để lại sẹo xấu.
4.2 Tràn khí màng phổi hoặc tràn khí – tràn dịch màng phổi:
     Khoảng gian sườn IV, V, V, VII theo đường nách trước, giữa và sau, và phải đặt ống dẫn lưu màng phổi ở vùng dịch của khoang màng phổi.
4.3 Tràn khí hoặc tràn dịch màng phổi khu trú: vị trí đặt ống dẫn lưu màng phổi tùy thuộc vào từng trường hợp.
  • Đối với tràn khí màng phổi khu trú, chỉ cần X-quang phổi thẳng và nghiêng là xác định được vị trí đặt ống dẫn lưu.
  • Đối với tràn dịch màng phổi khu trú, ngoài gợi ý của X-quang phổi thẳng và nghiêng, nên siêu âm ngực, CT Scan sẽ giúp xác định vị trí đặt ống dẫn lưu.
      4.4 Theo dõi và chăm sóc ống dẫn lưu:
  • Thời gian đầu (trong 18 – 24 giờ) sau khi đặt ống dẫn lưu, chụp X-quang phổi thì thở ra kiểm tra sau khi đặt ống.
  • Theo dõi sát hoạt động của ống dẫn lưu, bằng cách theo dõi dao động của mực nước trong ống nối. Không để tắc ống dẫn lưu. Đảm bảo độ kín của hệ thống hút. Luôn thay, rửa bình dẫn lưu, hệ thống dây ống dẫn, thay băng hàng ngày.
  • Đánh giá dịch chảy ra từ khoang màng phổi.
  • Theo dõi các biến chứng như: nhiễm trùng vết mổ, tràn khí dưới da, tràn máu màng phổi…
  • Cho bệnh nhân tập thở ra tối đa bằng cách cho ho ra mỗi ngày nhiều lần.
4.5 Thời điểm rút ống dẫn lưu:
  • Đối với tràn khí màng phổi: nếu nhu mô phổi đã nở ra hoàn toàn (mực nước trong ống dẫn lưu ngưng hoạt động) thì kẹp chặt ống dẫn lưu trong 24 giờ, theo dõi sát và chụp X-quang xem có triệu chứng của tràn khí màng phổi trở lại hay không. Nếu không có thì rút bỏ ống dẫn lưu. Nếu sau 72 giờ mà tình trạng tràn khí màng phổi vẫn còn thì phải xem xét đến biện pháp điều trị mạnh hơn như thủ thuật làm dày dính màng phổi (Pleurodesis) hoặc can thiệp ngoại khoa.
  • Đối với tràn máu màng phổi: phải theo dõi sát từng nửa giờ, một giờ, số lượng máu chảy ra. Nếu lượng máu vẫn tiếp tục chảy ra 200ml/giờ hoặc không có dấu hiệu giảm dần lượng máu chảy sau 4 – 6 giờ thì phải can thiệp ngoại khoa để cầm máu.
  • Đối với tràn dịch màng phổi do ác tính: có thể rút ống dẫn lưu nếu lượng dịch chảy ra dưới 150ml/ngày, thường trong vòng 24 – 48 giờ, tối đa là 72 giờ. Nếu dịch màng phổi vẫn tạo ra nhiều thì nên tiến hành thủ thuật làm dày dính màng phổi.
  • Đối với tràn dịch màng phổi dưỡng trấp: lượng dịch giảm dần và ngưng hẳn trong vòng 7 ngày sau khi đặt ống dẫn lưu. Nếu quá 7 ngày mà lượng dịch không giảm, thì can thiệp ngoại khoa.
  • Đối với tràn mủ màng phổi hoặc tràn dịch màng phổi cạnh viêm phổi: tiêu chuẩn rút ống dẫn lưu:
  • Dấu hiệu nhiễm trùng đã được kiểm soát, thường sau 7 – 10 ngày điều trị.
  • Dịch màng phổi được dẫn lưu ra dưới 50 ml/ngày.
  • Nhu mô phổi đã nở ra tốt.
  • Lành lỗ dò phế quản – màng phổi (nếu có).
  • Một điều nên ghi nhận là chính ống dẫn lưu sẽ kích thích màng phổi tạo ra phản ứng viêm xuất tiết dịch hình thành tràn dịch màng phổi phản ứng, sau đó nếu bị bội nhiễm sẽ gây tràn mủ màng phổi và cuối cùng tiến triển đến dày dính màng phổi di chứng bất phục hồi.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Hoàng Minh(2006),"Tràn khí màng phổi và vấn đề xử trí cấp cứu",Bệnh học Lao và Bệnh  phổi,Tập 2,Hà Nội,Tr.446-470.
2.Quang Văn Trí(2006),"Một số thủ thuật trong Lao và Bệnh phổi",Trường Đại Học Y Dược TpHCM,Tr.76-105.
3.Đặng Vạn Phước(2009)"Bệnh lý màng phổi",Bệnh học nội khoa,Trường Đại Học Y Dược TpHCM,Tr.333-363.

Nguồn tin: KHOA HÔ HẤP LAO

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Liên Kết Website
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây