HO RA MÁU

Thứ sáu - 04/12/2015 14:33
I.ĐẠI CƯƠNG
Ho ra máu là khạc ra máu trong khi ho có nguồn gốc từ đường hô hấp dưới.
II. CHẨN ĐOÁN
  1. Chẩn đoán xác định. Hỏi bệnh thường ghi nhận tiền sử bệnh lý phổi – phế quản, bệnh sử thấy có tiền triệu ngứa cổ, muốn ho sau đó bệnh nhân đưa máu ra bằng gắng sức ho, máu thường đỏ, có lẫn bọt hoặc đàm, có đuôi khái huyết, pH máu kiềm, nội soi và chụp cắt lớp lồng ngực cho thấy có máu chảy trong đường hô hấp dưới.
  2. Chẩn đoán phân biệt với các chảy máu đường hô hấp trên (khám tai mũi họng có tổn thương) và nôn (ói ra máu) từ đường tiêu hóa (tiền sử bệnh gan/ống tiêu hóa; bệnh sử thấy có tiền triệu đau thượng vị, ói (nôn) có lẫn thức ăn, nội soi đường tiêu hóa trên có thấy máu).
  3. Chẩn đoán độ nặng: sự phân loại này có tính tương đối vì ho ra máu lượng ít cũng có thể gây suy hô hấp nếu trên bệnh nhân có bệnh tim phổi mạn.
3.1. Ho ra máu nhẹ: máu ra như sợi chỉ hoặc đàm lẫn máu, tổng lượng máu ho ra < 100ml/24h.
3.2. Ho ra máu lượng vừa: lượng máu ho ra từ> 100-200ml/24 giờ.
3.3. Ho ra máu nặng: lượng máu ho ra > 200 ml/24 giờ.
3.4. Ho ra máu sét đánh: ho ra máu đột ngột, ồ ạt, lượng máu có thể > 500ml/lần, bệnh nhân có thể tử vong ngay do ngạt vì ngập máu đường thở, trụy tim mạch.
4. Chẩn đoán biến chứng và tiến triển: cần xem xét biến chứng suy hô hấp và/hoặc thiếu máu và xem máu ho chuyển màu đen và lượng ít dần đảm bảo bệnh nhân ngừng tiến triển.
5. Chẩn đoán bên tổn thương: dựa vào tiền sử bệnh, triệu chứng đau hoặc khó chịu bên bệnh, khám thấy bên bệnh có ran ẩm, nổ, ngáy. X quang lồng ngực, nội soi phế quản và chụp cắt lớp giúp xác nhận chắc chắn bên máu chảy. Nhận diện được bên tổ thương giúp hạ thấp, cô lập chỗ cháy máu và/hoặc thông khí an toàn bên không chảy máu cũng như định hướng DSA và phẫu thuật.
 
6.Chẩn đoán nguyên nhân
 
6.1. Dựa vào dịch tễ: Ở Việt Nam thống kê có 4 nhóm nguyên nhân ho ra máu thường gặp nhất: lao phổi, ung thư phế quản, dãn phế quản,  bệnh tim mạch. Ho ra máu lượng ít thường gặp nhất do viêm phế quản. Lượng nhiều thường nhất do dãn phế quản và lao. Bệnh cảnh thường gặp là bệnh nhân có tiền sử lao: khi đó các nguyên nhân hay gặp là lao tái phát, dãn phế quản và/hoặc u nấm phổi. (Xem thêm các nguyên nhân gây ho ra máu)
6.2. Dựa vào các bệnh cảnh thường gặp: Ho máu ở bệnh nhân 40-60 tuổi có tiền căn hút thuốc lá thường gặp do ung thư phế quản. Ho ra máu kèm hang lao đỉnh phổi thường do lao tiến triển. Ho ra máu tươi, hoặc máu trộn lẫn với một lượng mủ thối cần nghĩ áp-xe. Dãn phế quản: là nguyên nhân ho ra máu thường gặp nhất, đặc biệt là sau lao tại Việt Nam. Ho máu kèm đau ngực màng phổi cấp, khó thở cần nghĩ thuyên tắc phổi.
6.3. Dựa vào các xét nghiệm xác định nguyên nhân: Nội soi phế quản: ngoài giúp xác định các trường hợp ho ra máu nếu thấy máu trong lòng phế quản và khu trú tổn thương gây chảy máu: giúp cho việc điều trị nội, ngoại khoa hay nút mạch còn giúp lấy mẫu xét nghiệm tìm nguyên nhân: rửa phế quản-phế nang lấy dịch tìm BK, vi trùng, nấm, sinh thiết tổn thương nghi u hay ung thư và giúp cầm máu tại chỗ, bằng thuốc (bơm adrenalin pha loãng giúp cầm máu) hay bằng ống thông có bóng chèn chỗ chảy máu, gắp dị vật… Chụp cắt lớp ngực có cản quang: giúp chẩn đoán xác định nguyên nhân: thuyên tắc phổi, dãn phế quản, bất thường mạch máu, các tổn thương nghi u trên X quang ngực.
 
III. ĐIỀU TRỊ
 
  1. Nguyễn tắc chung
 
  1. Giữ thông đường thở, đảm bảo oxy. Đảm bảo tuần hoàn.
  2. Cô lập chỗ chảy máu, tránh để vùng ngập máu lan rộng và thử cố gắng cầm máu.
  3. Điều trị triệu chứng ho ra máu
  1. Tùy thuộc mức độ và nguyên nhân ho ra máu mà ta điều trị nội khoa, bơm tắc động mạch phế quản hay phẫu thuật.
  2. Nội khoa: Nghỉ ngơi, co mạch, cầm máu, an thần, giảm ho, kháng sinh phòng bội nhiễm.
  3. Điều trị nguyên nhân giúp cải thiện ho ra máu.
 
  1. Điều trị triệu chứng
Ho ra máu nhẹ và trung bình
  1. Nằm nghỉ yên tĩnh tại giường, ăn chế độ mềm, tránh táo bón, đặt đường truyền tĩnh mạch ± thở oxy.
  2. Các thuốc co mạch như vasopresin, vaglypressin hoặc adrenalin được sử dụng.
  3. An thần: Diazepam 10mg (TB/TM), hoặc Midazolam 5mg (pha loãng tiêm mạch chậm) hay Morphin; Thuốc giảm ho: nhóm ức chế ho mạnh và có Codein ví dụ Terpin codein 3-4 viên/ngày được xem xét nếu bệnh nhân không có hoặc không có tiềm năng suy hô hấp.
  4. Thuốc tác dụng đến quá trình đông máu: Adona 25mg hay Transamin 250mg.
  5. Nội soi phế quản xác định vị trí chảy máu ( và cả nguyên nhân ), cầm máu qua nội soi…
Ho ra máu nặng
  1. Bệnh nhân nằm yên tại giường, tốt nhất nằm tư thế nghiêng về phía có tổn thương gây chảy máu (nếu biết).
  2. Đặt ngay đường truyền tĩnh mạch, làm các xét nghiệm thường quy khẩn, chụp X quang ngực, thở oxy đảm bảo SpO2 > 90%.
  3. Khai thông đường thở: lau sạch máu, đờm dãi đọng trong miệng bệnh nhân, khi cần có thể đặt nội khí quản để bảo vệ đường thở, đặt ống thông Carlen trong trường hợp biết ho ra máu lượng nhiều từ một bên phế quản để cô lập bên phổi chảy máu, làm thông thoáng bảo vệ đường thở bên đối diện.
  4. Truyền máu nếu có dấu hiệu mất máu cấp nặng.
  5. Nội soi phế quản cấp cứu: hút đàm và máu, xác định vị trí chảy máu, bơm thuốc cầm máu…
  6. Bơm tắc động mạch phế quản: khi tình trạng ho ra máu không kiểm soát được bằng nội khoa và nội soi. Chụp động mạch phế quản: chỉ định trong trường hợp ho ra máu nhiều, hay ho ra máu tái phát. Kết quả chụp động mạch phế quản có thể chỉ điểm chỗ động mạch bị dị dạng hay bị vỡ. Ngay khi chụp mạch có cản quang nếu phát hiện có tổn thương người tan có thể nút mạch ngay để cầm máu.
  7. Phẫu thuật cấp cứu khi chảy máu ồ ạt, điều trị nội không kết quả, hoặc do nguyên nhân vỡ phình động mạch, chấn thương đứt phế quản, tổn thương mạch máu…
    1. Điều trị nguyên nhân: Kháng sinh nếu do nhiễm trùng, kháng lao nếu ho ra máu do lao, kháng đông nếu do thuyên tắc phổi, phẫu thuật nếu u nấm phổi hoặc dãn phế quản khu trú, ung thư phổi giai đoạn 1,2…
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
  1. Hướng dẫn thực hành nội khoa phổi. Nhà xuất bản y học, 2009.
  2. Bệnh học Lao-Phổi tập III: Bệnh học phổi. Nhà xuất bản y học, 1999.
  3. Điều trị nội khoa – ĐHYD Hà Nội. Nhà xuất bản y học, 2008.
  4. The Washington Manual of Medical Therapeutics, 31st edition, 2004; Hemoptysis: 224-225.
  5. Respiratory Medicine, third edition, 2003.

Nguồn tin: KHOA HÔ HẤP LAO

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Liên Kết Website
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây