ĐẶT NỘI KHÍ QUẢN

Thứ ba - 01/12/2015 14:42
          Đặt nội khí quản là phương pháp dễ thưc hiện nhằm bảo đảm thông khí và cung cấp oxy, là thao tác đơn giản nhưng nếu làm kịp thời có thể cứu sống được bệnh nhân. Tuy nhiên người thưc hiện cần được huấn luyện và nắm được các nguyên tắc cơ bản.
1. Chỉ định:
 - Tắc nghẽn đường thở do dị vật trong chấn thương, nhiễm trùng, phù thanh quản, co thắt, hoặc do u chèn ép.
-  Cấp cứu ngưng tim, ngưng thở.
-  Bệnh nhân suy hô hấp cần thở máy
- Chăm sóc, vệ sinh đường thở, bảo vệ đường thở ở bệnh nhân hôn mê hoặc gây mê.
2. Chống chỉ định:
- Chấn thương nặng vùng hàm mặt hoặc có nguyên nhân tắc nghẽn cản trở việc đặt NKQ. (Chỉ định MKQ cấp cứu)
- Chấn thương cột sống cổ cần bất động. Khi cần thì đặt NKQ qua mũi hoặc qua nội soi phế quản có người phụ hạn chế ngửa cổ bệnh nhân.
- Không nên quá tập trung vào đặt NKQ khi đang cấp cứu ngưng tim
3. Nguyên tắc:
- Khi có chỉ định đặt NKQ, người thực hiện phải là người đã được đào tạo và có kinh nghiệm.
- Mặc dù đây là thủ thuật cấp cứu, cần thực hiện nhanh chóng, nhưng người thầy thuốc vẫn cần phải hết sức bình tĩnh, kiểm tra đầy đủ dụng cụ và làm đúng động tác kỹ thuật.
- Dù là đặt NKQ cấp cứu hay trì hoãn thì về cơ bản kỹ thuật là như nhau. Trước tiên phải cung cấp oxy với hệ thống bóng, mask và cung cấp oxy 100%, theo dõi dấu hiệu sinh tồn và độ bão hòa oxy qua mạch đập; lựa chọn NKQ và đèn phù hợp, lượng giá bệnh nhân. Khi điều kiện sẵn sàng mới tiến hành đặt NKQ.
4. Dụng cụ:
 4.1) Bóng, dây nối oxy, mặt nạ: để bóp bóng cung cấp oxy trước đặt hoặc sẵn sàng hồi sức khi đặt NKQ thất bại.
 4.2) Đèn đặt NKQ: Có hai loại đèn hay dùng là: đèn lưỡi thẳng và đèn lưỡi cong. Có nhiều kích cỡ phù hợp với từng bệnh nhân. Đèn lưỡi thẳng thường dùng số 2,3; khi đặt sẽ nâng trực tiếp nắp thanh quản, đăt ở trẻ em thì dễ thấy hơn. Đèn lưỡi cong thường dùng số 3,4; khi đặt sẽ đè vào đáy nắp thanh quản, gián tiếp nâng nắp thanh quản lên, loại đèn này phổ biến và tốt hơn ở bn có cổ ngắn, dày. Tốt hơn hết là biết cách sử dụng cả 2 loại đèn này. Ngoài ra còn có một số loại đèn đặc biệt khác dùng trong đặt NKQ khó.
 4.3) Nội khí quản: NKQ có nhiều kích cỡ khác nhau. Khi đăt cho bệnh nhân phải chuẩn bị sẵn nhiều loai. Thông thường ở người lớn nữ hay đặt số 7.5, 8.0 và nam là 8.0, 8.5
 4.4) Ngáng lưỡi: Có 2 dạng là ngáng miệng và mũi Là dụng cụ để giữ lưỡi không tụt, che lấp khí quản và dễ dàng kiểm soát đường thở bằng bóp bóng qua mask khi chưa đặt được NKQ.
 4.5) Cây thông nòng: Để luồn vào NKQ, uốn cong NKQ theo cấu trúc giải phẫu. Khi đặt thông nòng vào NKQ, chú ý đầu cây thông nòng phải cách đầu trong của ống NKQ 1cm để tránh làm tổn thương khí quản.
 4.6) Máy hút: Rất quan trọng vì một số trường hợp có dị vật cần hút sạch và hút dịch tiết ngăn ngừa viêm phổi hít.
 4.7) Bơm tiêm 5-10mL để bơm bóng chèn
 4.8) Thuốc gây tê dạng xịt (vd lidocaine 2%) để gây tê vùng hầu họng tránh phản xạ cường giao cảm quá mức
 4.9) Kính mắt, khẩu trang, Găng tay cho thầy thuốc.
5. Các bước tiến hành
 5.1) Sơ lược giải phẫu:
 5.2) Lượng giá bệnh nhân: Trong thời gian hồi sức cần lượng giá bệnh nhân để tiên lương mức độ khó, sẵn sàng cấp cứu nếu đặt NKQ thất bại. Đo khoảng cách từ dưới cằm đến hõm ức đòn, nếu dưới 6.5cm là tiên lượng đặt NKQ khó. .
 5.3) Đảm bảo thông khí và chuẩn bị dụng cụ trước đặt NKQ:
Thông khí qua mặt nạ: Cung cấp oxy qua mặt nạ với lưu lượng 10-15 L/min.
  • Lựa chọn mặt nạ vừa với bệnh nhân, che phủ cả mũi và miệng.
  • Đặt bệnh nhân ở tư thế sniffing.
  • Đặt mặt nạ che phủ cả mũi và miệng bệnh nhân bằng tay phải.
  • Tay trái, đặt ngón út và ngón nhẫn dưới hàm dưới bệnh nhân và dở lên để làm thẳng đường thở. Giữ chặt mặt nạ bằng ngón cái và ngón trỏ, và áp chặt vào mặt bệnh nhân trong khi nâng cằm bằng những ngón kia.
  • Bóp bóng bằng tay phải. Lồng ngực phải được di động theo mỗi nhịp bóp bóng.
  • Gây tê vùng hầu họng bằng lidocain 2% nếu thời gian cho phép và bn tỉnh táo
  • Kiểm tra cán đèn và lưỡi đèn phù hợp, và đảm bảo đèn sáng.
  • Lựa chọn nội khí quản phù hợp với bệnh nhân.
  • Dùng bơm tiêm 10ml bơm bóng chèn với 5-8 ml khí. Đảm bảo bóng chèn còn họat động và nguyên vẹn.
  • Bôi trơn đầu dưới của NKQ, có thể có lidocain
  • Đưa cây thông nòng vào NKQ và uốn cong hình bán nguyệt. Đầu cây thông nòng cách đầu NKQ #1cm.
  • Chắc chắn các dụng cụ đã sẵn sàng và gần tầm tay.
 5.4) Tiến hành đặt NKQ: Người đặt đứng ở đầu bệnh nhân, bệnh nhân đặt ở tư thế ngửa đầu duỗi cổ, có thể kê một gối mỏng # 10cm dưới chẩm sao cho trục thực quản, khí quản trên một đường thẳng.
Mở miệng bệnh nhân bằng ngón cái và ngón trỏ tay trái, đưa lưỡi đèn vào bằng tay phải, sau đó chuyển sang cầm đèn bằng tay trái. Lấy răng giả và dị vật, đưa đèn vào bên phải miệng bn gạt lưỡi sang một bên .Với đèn lưỡi cong: Đưa lưỡi đèn vào bên phải lưỡi, trên nắp thanh môn và vén lưỡi sang bên trái. Nhấc đèn lên trên và ra trước, theo hướng cán đèn. Không tỳ vào răng và môi trên như đòn bẩy, tránh làm gãy răng hàm trên và tổn thương dây thanh âm.
 5.5. Với đèn lưỡi thẳng: Thứ tự các bước như đèn lưỡi cong, nhưng khi đưa vào thì lưỡi đèn đặt dưới nắp thanh môn và nhấc nắp thanh môn bằng lưỡi đèn để nhìn thấy dây thanh. Nâng cán đèn vuông góc với lưỡi đèn
Tiến hành đưa đèn đặt NKQ vào như đã nói. Khi thấy dây thanh, từ từ đưa NKQ vào bên phải miệng bệnh nhân, tránh cạ vào răng làm vỡ bóng chèn, đưa NKQ vào bên cạnh lưỡi đèn. Đặt nhẹ nhàng đến khi bóng chèn qua khỏi 2 dây thanh và vào đủ xa để không còn thấy bóng chèn. Đôi khi phải dùng tay ấn nhẹ vào sụn nhẫn để đè xẹp thực quản, giúp đặt NKQ dễ hơn (thủ thuật Sellick).
  •  Rút cây thông nòng.
  • Bơm bóng chèn và bóp bóng với oxy 100%.
  • Cố định NKQ ngang cung răng từ 19 đến 23cm.
  • Kiểm tra để chắc chắn NKQ đã đặt đúng vị trí. Đầu tiên, nghe ở dạ dày, nếu NKQ vào thực quản sẽ nghe âm thanh vùng dạ dày và thấy dạ dày phồng lên → rút ra và đặt lại.
  • Sau đó nghe 2 bên lồng ngực, chắc chắn âm thanh đều 2 bên. Nếu không, thay đổi vị trí NKQ đến khi âm thanh nghe đều 2bên.
  • Chụp XQ kiểm tra vị trí đúng của NKQ và làm kmđm.
5.6. Đặt nội khí quản khó:
  • Đặt mask thanh quản: trường hợp đặt NKQ khó cần hồi sức hoặc cần thông khí, gây mê trong thời gian ngắn.
  • Đặt NKQ ở người có dạ dày đầy, chướng bụng… nằm đầu cao 30 – 40 độ, dùng thủ thuật sellick mục đích là đè xẹp thực quản tránh trào ngược dịch vị gây viêm phổi hít.
  • Đặt NKQ qua mũi: sử dụng trong một số trường hợp cần phẫu thuật hàm mặt hoặc chấn
thương cột sống cổ hạn chế ngửa cổ.
  • Đặt NKQ qua nội soi: một số trường hợp khó đặt NKQ như bướu giáp to, chấn thương
cột sống cổ phải đặt qua nội soi.
  • Đặt NKQ ngược dòng
  • Đặt NKQ có nòng dẫn: thường dùng để thay nội khí quản khó
  • Đặt NKQ 2 nòng: sử dụng ở bn có tổn thương hoặc cần phẫu thuật một bên phổi.
 5.7. Tai biến khi đặt NKQ:
  • Đặt nhầm vào thực quản mà không nhận ra hoặc thao tác đặt nkq quá lâu gây: Giảm oxy máu, ứ co2, trào ngược dạ dày gây viêm phổi hít, ngưng tim…
  • Rách môi, gãy răng, rách lưỡi, chảy máu do chấn thương hầu họng, nắp thanh môn
  • Chấn thương thanh, khí quản
  • Xẹp phổi do đặt sâu vào khí quản một bên.
  • Làm nặng hơn tình trạng chấn thương cột sống cổ.

Nguồn tin: Khoa hồi sức tích cực

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Liên Kết Website
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây