NGỘ ĐỘC CÁ NÓC

Thứ tư - 02/12/2015 16:05
1. TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN
            1.1.Chẩn đoán xác định
            a. Lâm sàng
            Sau khi ăn cá nóc (Puffer fish, Balloon fish; Fugu là tên gọi ở Nhật Bản) hay cá khô, ruốc cá làm bằng cá nóc, triệu chứng xuất hiện sau 10 phút – 30 phút: tê miệng, lưỡi, hai môi, đau đầu, nôn, nói khó, tê ở ngón và bàn tay bàn chân, yếu và mệt, tử vong do liệt cơ hô hấp hoặc suy tuần hoàn cấp.
            Các dấu hiệu khác: tim chậm, rối loạn nhịp tim, hạ huyết áp, hạ nhiệt độ, tăng tiết nước bọt, tím, ngừng thở, mất phản xạ gân xương và trương lực cơ.
            Các dấu hiệu lâm sàng có thể mất đi sau 24 giờ nếu bệnh nhân được cứu sống.
            b. Xét nghiệm:
            - Máu: điện giải, urê, đường, creatinin, thăng bằng toan kiềm.
            - Điện tâm đồ : nhịp chậm, rối loạn nhịp.
            - Theo dõi SPO2 và EtCO2 (nếu có điều kiện) hoặc chức năng phổi (Vt, áp lực âm thở vào).
            Phát hiện độc chất tetrodotoxin (TTX) trong dịch cơ thể hoặc trong mẫu bệnh phẩm:chỉ thực hiện được ở những cơ sở xét nghiệm hiện đại.
            2.2. Chẩn đoán phân biệt
            - Các chất độc khác ở thực phẩm (vi khuẩn, hóa chất trừ sâu, chất bảo quản, cá độc loại Scombroid, Ciguatera, Shellish cũng gây nôn, buồn nôn.
            - Các nguyên nhân không do độc: viêm dạ dày cấp, co thắt đại tràng.
2. NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH
            Chất độc trong cá nóc gọi là tetrodotoxin (TTX) là chất độc không protein, tan trong nước và không bị phá hủy ở nhiệt độ sôi hay làm khô, chất độc bị bất hoạt trong môi trường acid và kiềm mạnh.
            TTX tập trung ở trứng cá, ruột gan và tinh hoàn của cá. Chất độc này còn tìm thấy trong một số loại vật khác như: bạch tuộc có vòng xanh ở tua (dễ lẫn với con mực, con sa - giông và kỳ nhông).
            Chất độc TTX tác dụng lựa chọn chẹn dòng natri trong cơ chế bơm kali – natri và kênh natrium tấm vận động, do đó TTX gây ra liệt cơ, liệt hô hấp, đồng thời TTX còn phát động vùng nhận cảm hóa học gây nôn, nôn liên tục.
3. TIÊN LƯỢNG CÁCH PHÒNG
            Độ nặng của ngộ độc cá nóc tùy thuộc vào lượng độc tố và thời gian được cấp cứu.
            - Nếu bệnh nhân có triệu chứng nhẹ có thể theo dõi và khỏi được.
            - Nếu có triệu chứng rõ, chưa bị tím, điều trị cấp cứu ban đầu và hồi sức, sẽ cứu được trong vòng 24 giờ.
            - Nếu thiếu oxy lâu, không được cấp cứu ban đầu có thể gây biến chứng hoặc tử vong.
            - Cách phòng ngừa: tốt nhất là không ăn cá nóc, chuẩn bị túi cấp cứu khi cần thiết.
4. ĐIỀU TRỊ
  • Trước khi vào bệnh viện
            Nếu bệnh nhân còn tỉnh với triệu chứng nhẹ: cho uống than hoạt 1 -2g/kg và sorbitol 1g/kg cho cả người lớn và trẻ em trên 2 tuổi.
            Nếu bệnh nhân có tím, rối loạn ý thức: thổi ngạt, bóp bóng Ambu, rồi đưa đến cơ sở y tế hoặc bệnh viện gần nhất.
  • Trong bệnh viện
            Nếu đã xuất hiện triệu chứng tim, rối loạn ý thức
            1. Không gây nôn.
            2. Đặt ống nội khí quản, có bơm bóng chèn để đảm bảo đường dẫn khí, hỗ trợ hô hấp bằng bóng Ambu, thở máy.
            3. Đặt ống thông dạ dày nếu mới ăn cá trong 1 giờ đầu, rửa dạ dày, cho than hoạt 1 – 2g/kg.
            4.Truyền dịch glucose 5% và NaCL 0,9% để duy trì huyết áp.
                        Điều trị các triệu chứng nặng (nếu có):
  1. Hạ huyết áp
            - Truyền dịch 1000 – 2000 ml NaCl 0,9% qua đường tĩnh mạch và đặt bệnh nhân tư thế nghiêng trái, đầu thấp. Cần theo dõi áp lực tĩnh mạch trung tâm.
            - Tránh truyền dịch quá mức.
            - Nếu truyền dịch không làm tăng huyết áp cần cho:
Dopamin 2 -5 ug/kg/ phút liều cho cả bệnh nhân người lớn lẫn trẻ em, điều chỉnh tăng liều để đạt hiệu quả, song không quá 15ug/kg/phút. Có thể thêm.
Noradrenalin 0,1 -0,2ug/kg/ phút, điều chỉnh liều để có kết quả, liều cao quá không có lợi gây thiếu máu tổ chức.
  1. Co giật: là triệu chứng hiếm gặp, điều trị co giật bằng diazepam 10mg tiêm tĩnh mạch, nếu không đáp ứng có thể cho phenobarbital hay phenytoin sau khi đã đặt ống nội khí quản, thông khí hỗ trợ ./.
 
 
Vũ Văn Đính (2006), ”Ngộ độc Cá nóc”, Cẩm nang cấp cứu, Nhà xuất bản Y học Việt Nam, pp.155-159.

Nguồn tin: Khoa hồi sức tích cực

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Liên Kết Website
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây