NHIỄM KHUẨN NẶNG & SỐC NHIỄM KHUẨN

Thứ tư - 02/12/2015 14:23
1.TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN NHIỂM KHUẨN:
Nhiểm khuẩn, các ca bệnh nghi ngỡ hoặc rõ rang có từ 2 trở lên trong số các tiêu chuẩn sau:
1.1.Triệu chứng chung:
- Sốt>38o3C
- Hạ thân nhiệt<36oC
- Nhịp tim>90 lần /phút
- Thay đổi ý thức
- Phù rõ hoặc cân bằng dịch dương(>20ml/kg/24giờ
- Tăng glucose máu (đường máu>140mg/dl hoặc>7,7mmol/l)
1.2.Dấu hiệu viêm:
- Tăng bạch cầu >12000/mm3
- Hoặc giảm bạch cầu <4000/mm3
- Số lượng bạch cầu bình thường nhưng tỉ lệ bạch cầu non >10%
- CRP >2lần bình thường
1.3.Thay đổi huyết động:
- Tụt HA ( HA tâm thu <90mmHg, HA trung bình <70mmHg, hoặc HA tâm thu giảm >40 mmHg so với bình thường của lứa tuổi đó.
1.4. Dấu hiệu rối loạn chức năng tạng:
- Gỉam oxy máu động mạch( PaO2/FiO2 <300)
- Thiểu niệu cấp ( nước tiểu < 0,5ml/kg/giờ ít nhất trong 2 giờ, mặc dù được bù đủ dịch)
- Tăng Creatinin>0.5mg/dl hoặc 44,2µmol/l
- Rối loạn đông máu ( INR>1,5 hoặc Aptt >60 giây )
- Gỉam tiểu cầu ( số lượng< 100000/µl )
- Bụng chướng ( không nghe tiếng nhu động ruột )
- Tăng bilirubin máu ( bilirubin TP> 4mg/dl hoặc 70µmol/l )
1.5.Dấu hiệu giảm tưới máu tổ chức:
- Tăng Lactate máu (> 1mmol/l )
- Chậm làm đầy mao mạch ( ấn ngón tay vào da nếu da hồng trở lại >2giây ).
2. TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN NHIỄM KHUẨN NẶNG( SỐC NHIỄM KHUẨN ):
- Nhiểm khuẩn gây tụt HA
- Tăng Lactate máu (>1mmol/l )
- Thiểu niệu ( nước tiểu< 0,5ml/kg/giờ )
- Tổn thương phổi cấp P/F<250 nếu không có viêm phổi
- Tổn thương phổi cấp P/F< 200 nếu có viêm phổi kèm theo
- Creatinin>2.0mg/dl ( hoặc 176,8 µmol/l )
- Bilirubin>2mg/dl ( 34,2µmol/l)
- Tiểu cầu<100000/µl
- Rối loạn đông máu (INR>1.5)
3.HỒI SỨC BAN ĐẦU&KIỂM SOÁT NHIỄM KHUẨN:
3.1. Hồi sức ban đầu:
3.1.1. Cần có kế hoạch hồi sức và bắt đầu hồi sức ngay khi bệnh nhân có dấu hiệu giảm tưới máu mô gây ra bởi nhiễm khuẩn nặng ( tụt HA mặc dù đã bù dịch hoặc Lactate máu ≥4mmol/l ). Không nên chậm trể việc điều trị trong lúc chờ chuyển đến khoa HSTC.
Mục tiêu hồi sức trong 6giờ đầu:
  • Áp lực tĩnh mạch trung tâm ( CVP ) 8-12mmHg
  • HA động mạch trung bình ≥65mmHg
  • Lượng nước tiểu ≥0,5ml/Kg/giờ
  • Độ bão hoà oxy tĩnh mạch trung tâm ( TM chủ trên )≥70% hoặc TM trộn≥65%
     3.1.2. Ở bệnh nhân có tăng lactate máu, mục tiêu là đưa lactate máu về giá trị bình thường.
3.2. Tầm soát nhiễm khuẩn huyết & cải thiện kết quả điều trị
3.2.1. Tầm soát nguy cơ nhiễm khuẩn huyết để phát hiện và điều trị sớm
3.2.2. Cố gắng làm mọi việc trong điều kiện có thể được của cơ sở đó.
3.3. Chẩn đoán:
  3.3.1. Cấy bệnh phẩm phù hợp trước khi sử dụng kháng sinh nhưng không làm chậm trễ (>45phút) việc sử dụng kháng sinh cần cấy ít nhất 2 mẫu máu ( cả hiếu khí lẫn kỵ khí ) trước khi sử dụng kháng sinh với ít nhất một mẫu lấy qua da và một mẫu qua catheter nội mạch, ngoại trừ trường hợp catheter mới đặt< 48giờ.
3.3.2.Nếu nghi ngờ tác nhân gây nhiểm khuẩn huyết là nấm Cadida nên xét nghiệm đặt hiệu        ( nếu có điều kiện ) để chẩn đoán phân biệt.
3.3.3. Các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh cần chỉ định một cách hợp lý để xác định nguồn gốc nhiễm khuẩn.
3.4.Liệu pháp kháng sinh:
 3.4.1.Sử dụng kháng sinh đường tĩnh mạch trong giờ đầu chẩn đoán sốc nhiễm khuẩn và nhiễm khuẩn nặng như là một mục tiêu điều trị.
3.4.2.a/ Sử dụng một hoặc nhiều kháng sinh theo kinh nghiệm ban đầu có hoạt tính chống lại tác nhân nghi ngờ ( vi khuẩnvà/hoặc vi nấm hoặc virus) và có thể thâm nhập vào vị trí nhiểm khuẩn.
         b/ Nên đánh giá liệu phápkháng sinh mỗi ngày để xem xét khả năng xuống thang.
3.4.3.Sử dụng nồng độ procalcitonin và các biomarker tương tự để hổ trợ cho việc ngưng kháng sinh ở những bệnh nhân không còn bằng chứng nhiễm khuẩn.
3.4.4.a/ Cần phối hợp kháng sinh ở những bệnh nhân giảm bạch cầu hạt có nhiễm khuẩn huyết và những bệnh nhân đáp ứng kém với điều trị, hoặc nhiễm tác nhân đa kháng thuốc như  Acinetobacter và Pseudomonas spp. Ở những bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng kèm suy hô hấp và sốc nhiễm khuẩn, phối hợp kháng sinh bao gồm betalactam phổ rộng kết hợp với hoặc aminoglycoside hoặc fluoroquinolon trong trường hợp do Pseudomonas aeruginosa. Đối với nhiễm khuẩn huyết và sốc nhiễm khuẩn do Streptococcus pneumonia nên phối hợp betalactam và macrolide.
          b/ Liệu pháp kháng sinh kết hợp theo kinh nghiệm không nên kéo dài quá 3-5 ngày. Nên xuống thang kháng sinh đơn trị liệu thích hợp khi có thể dựa trên kết qua cấy.
3.4.5. Thời gian điều trị kháng sinh trung bình từ 7-10 ngày; thời gian điều trị cần dài hơn trong trường hợp: đáp ứng lâm sang chậm, hoặc không dẫn lưu được ổ nhiễm khuẩn, nhiễm khuẩn huyết do S.aureus, nhiễm nấm và virus, suy giảm miễn dịch, giảm bạch cầu hạt.
3.4.6. Điều trị kháng virus cần khởi đầu càng sớm càng tốt ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết nặng hoặc sốc nhiễm khuẩn gây ra do virus.
3.4.7. Kháng sinh không nên được sử dụng ở bệnh nhân có triệu chứng viêm nhưng không phải do nguyên nhân nhiễm khuẩn.
3.5. Kiểm soát ổ nhiễm khuẩn
  3.5.1. Ổ nhiễm khuẩn cần được chẩn đoán xác định hoặc loại trừ nhanh nhất có thể và được can thiệp trong vòng 12giờ đầu
  3.5.2. Nếu nguồn gốc nhiễm khuẩn là viêm tụy hoại tử nhiễm khuẩn, can thiệp nên trì hoãn cho đến khi mô hoại tử và mô bình thường có giới hạn rõ.
  3.5.3. Khi can thiệp vào ổ nhiễm khuẩn nên lựa chọn phương pháp ít xâm lấn nhất ( VD: ổ ápxe nên được dẫn lưu qua da hơn là phẩu thuật).
  3.5.4. Nếu nguồn gốc nhiễm khuẩn có khả năng là catheter nội mạch nên rút bỏ ngay sau khi đặt lại catheter mới.
3.6. Phòng ngừa nhiễm khuẩn
  3.6.1a/ Sát khuẩn miệng và sát khuẩn chọn lọc đường tiêu hóa nên được xem xét để giảm tần suất viêm phổi lien quan đến thở máy. Các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn cần được xây dựng và thực hiện đầy đủ tùy theo mỗi cơ sở nếu thấy có hiệu quả.
          b/ Nên sát trùng hầu họng bằng chlohexidine gluconate để giảm nguy cơ viêm phổi thở máy cho những bệnh nhân nhiểm khuẩn huyết nặng tại khoa HSTC.
4. MỘT SỐ MỤC TIÊU CỤ THỂ TRONG 6GIỜ ĐẦU
  4.1. Cần hoàn thành trong 3giờ đầu:
  • Đo laclate máu
  • Cấy máu trước khi dung kháng sinh
  • Sử dụng kháng sinh phổ rộng
  • Truyền dịch 30ml/kg khi tụt HA hoặc sốc
  4.2. Cần hoàn thành trong 6giờ đầu:
  • Sử dụng thuốc vận mạch ( tụt HA sau khi đã truyền dịch, duy trì HA trung bình >65mmHg ).
  •  Trong trường hợp sốc (lactate>4mmol/l hoặc tụt HA sau khi đã truyền dịch):
  • Đo áp lực tĩnh mạch trung tâm (CVP)
  • Đo độ bão hòa oxy máu tĩnh mạch trung tâm (ScvO2).
  • Đo lại lactate nếu lactate ban đầu cao.
5.HỔ TRỢ HUYẾT ĐỘNG:
  5.1.Truyền dịch trong nhiễm khuẩn nặng:
  • Dịch tinh thể Sodium 0,9%, Reamberin 1,5%, ..Được lựa chọn đầu tiên trong hồi sức bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng và sốc nhiễm khuẩn.
  • Không nên sử dụng hydroxyethyl starches trong bù dịch cho bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết nặng và sốc nhiễm khuẩn.
  • Albumin được sử dụng để bù dịch cho bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết nặng và sốc nhiễm khuẩn khi bệnh nhân cần truyền một lượng quá lớn dịch tinh thể.
  • Test dịch ở bệnh nhân giảm tưới máu mô gây ra do nhiễm khuẩn huyết và nghi ngờ giảm thể tích cần tối thiểu 30ml/kg dịch tinh thể (hoặc dịch Albumin tương đương). Một số bệnh nhân cần truyền dịch nhanh hơn và nhiều hơn.
  • Test dịch được áp dụng cho đến khi có cải thiện huyết động dựa trên thông số huyết động (sự thay đổi áp lực mạch, thể tích nhát bóp) hoặc các số liệu (HA động mạch, tần số tim).
 5.2. Thuốc vận mạch
  • Mục tiêu sử dụng thuốc vận mạch để nâng HA trung bình ≥ 65mmHg.
  • Norepinephrine (noradrenalin) được lựa chọn đầu tiên.
  • Dùng thêm epinephrine (adrenalin) khi huyết áp không duy trì được chỉ với norepinephrine.
  • Vasopressin 0,03 đv/phút có thể được sử dụng thêm vào với norepinephrine để nâng HA trung bình hoặc để giảm liều norepinephrine.
  • Không khuyến cáo sử dung đơn độc liều thấp vasopressin để điều trị sốc nhiễm khuẩn hoặc sử dụng liều cao vasopressin≥0,03-0,04đv/phút.
  • Dopamin sử dụng thay thế cho noradrenalin trong một số trường hợp đặc biệt (VD: bệnh nhân ít có nguy cơ rối loạn nhịp nhanh hoặc bệnh nhân nhịp chậm).
  • Phenylephrin không khuyến cáo trong điều trị sốc nhiễm khuẩn trừ khi:
  • Noradrenalin gây rối loạn nhịp nghiêm trọng
  • Cung lượng tim cao nhưng HA thấp kéo dài
  • Liệu pháp cứu vãn khi kết hợp thuốc tăng co hoặc vận mạch và vasopreein liều thấp nhưng không đạt được HA trung bình mục tiêu.
  • Không sử dụng dopamine liều thấp nhằm mục tiêu bảo vệ thận
  • Tất cả các bệnh nhân sử dụng thuốc vận mạch cần phải đặt catheter động mạch sớm.
5.3.Thuốc tăng co bóp cơ tim
  • Sử dụng dobutamin truyền tĩnh mạch có thể lên đến 20µg/kg/phút kết hợp với thuốc vận mạch trong trường hợp:
  • Rối loạn chức năng cơ tim gây tăng áp lực đổ đầy & giảm cung lượng tim
  • Vẫn còn dấu hiệu của giảm tưới máu mô mặc dầu đã truyền đủ dịch & đạt được mục tiêu HA trung bình
  • Không sử dụng để tăng cung lượng tim vượt quá mức bình thường.
5.4.Corticosteroides:
  • Không sử dụng hydrocortisone truyền tĩnh mạch để điều trị bệnh nhân người lớn sốc nhiễm khuẩn nếu mà bù dịch và vận mạch có thể ổn định huyết động. Nếu huyết động không ổn định có thể sử dụng hydrocortisone 200mg/ngày.
  • Không sử dụng test kích thích ACTH để xác định bệnh nhân nào cần sử dụng hydrocortisone.
  • Gỉam dần liều hydrocortisone khi đã ngưng thuốc vận mạch.
  • Corticosteroides không được dùng để điều nhiễm khuẩn nếu không có sốc.
  • Khi sử dụng hydrocortisone, nên truyền lien tục.
6.CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ HỔ TRỢ KHÁC:
  6.1. Truyền máu và các chế phẩm của máu:
  • Trong trường hợp hồi phục tưới máu mô và khôngcó các tình trạng như thiếu máu cơ tim, giảm õy nặng, xuất huyết cấp, bệnh mạch vành, truyền  hồng cầu lắng khi Hb< 7g/dl để đạt mục tiêu Hb 7-9g/dl ở người lớn.
  • Không sử dụng huyết tương tươi đông lạnh để điều chỉnh rối loạn đông máu nếu không có chảy máu cấp hoặc cần can thiệp xâm lấn.
  • Không sử dụng antithrombin để điều trị nhiễm khuẩn huyết nặng hoặc sốc nhiễm khuẩn.
  • Ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết nặng, truyền tiểu cầu phòng ngừa khi tiểu cầu<10000/mm3 và không có chảy máu trên lâm sàng, <20000/mm3 và có nguy cơ chảy máu cao. Cần nâng tiểu cầu lên ≥50000/mm3 khi có chảy máu, phẩu thuật hay làm thủ thuật xâm lấn.
6.2. Globulin miễn dịch:
  Không sử dụng globulin miễn dịch  truyền tĩnh mạch ở bệnh nhân người lớn nhiễm khuẩn huyết nặng hoặc sốc nhiễm khuẩn.
6.3. Selenium:
  Không sử dụng selenium truyền tĩnh mạch trong điều trị bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết nặng.
6.4. Không sử dụng Protein C hoạt hóa tái tổ hợp (rhAPC) cho bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết nặng hoặc sốc nhiễm khuẩn.
6.5. Thở máy ở bệnh nhân ARDS gây ra do nhiễm khuẩn huyết nặng
  • Mục tiêu cài đặt thể tích khí lưu thông 6ml/kg cân nặng dự đoán.
  • Cần theo dỏi áp lực bình nguyên & mục tiêu giữ ≤ 30mmHg
  • PEEP cần cài đặt để tránh xẹp phổi vào lúc cuối kỳ thở ra.
  • Chiến lược sử dụng PEEP cao tốt hơn PEEP thấp ở bệnh nhân ARDS trung bình đến nặng.
  • Sử dụng liệu pháp huy động phế nang ở bệnh nhân giảm oxy máu trơ không cải thiện sau khi thở máy.
  • Áp dụng tư thế nằm sấp cho những bệnh nhân ARDS do nhiễm khuẩn huyết nặng với PaO2/FiO2 < 100mmHg ở cơ sở có điều kiện (kinh nghiệm thực hành).
  • Những bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết thở máy, cần nâng đầu giường 30-45o để giảm nguy cơ hít phải, và ngừa viêm phổi liên quan thở máy.
  • Thông khí không xâm lấn (NIV) qua mặt nạ (mask) có thể sử dụng nhưng chỉ ở một số ít  bệnh nhân, khi đã xem xét kỹ những lợi ích so với những nguy cơ.
  • Cần áp dụng protocol cai máy thở cho những bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết đang thở máy, thực hiện thử nghiệm thở tự nhiên (SBT) mỗi ngày để đánh giá khả năng ngừng thở máy khi bệnh nhân thỏa các tiêu chuẩn sau:
  • Tỉnh táo
  • Huyết động ổn định ( không cần dung thuốc vận mạch ).
  • Không có tình trạng bệnh nặng khác kèm theo.
  • Áp lực thông khí và áp lực cuối thì thở ra thấp (PEEP≤5).
  • Nhu cầu FiO2 thấp có thể đạt được qua mask hay canula mũi. Nếu SBT thành công, nên xem xét rút nội khí quản.
  • Không nên đặt catether động mạch phổi thường quy cho bệnh nhân ARDS do nhiễm khuẩn huyết.
  • Nên hạn chế truyền dịch cho những bệnh nhân ARDS do nhiễm khuẩn mà không có bằng chứng của giám tưới máu mô.
  • Nếu không có những chỉ định đặc biệt như co thắt phế quản, không nên sử dụng thuốc đồng vậnβ2 trong điều trị bệnh nhân ARDS do nhiễm khuẩn huyết.
6.6. An thần giảm đau và giãn cơ trong nhiễm khuân
  • Trên bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng đang thở máy, cần hạn chế tối thiểu sử dụng an thần truyền lien tục hay ngắt quãng và nên điều chỉnh để đạt mạc tiêu cần thiết.
  • Thuốc giãn cơ nên tránh sử dụng nếu có thể ở bệnh nhân nhiễm khuẩn không kèm theo ARDS do tác dụng giãn cơ vẫn kéo dài sau khi ngưng thuốc. Nếu phải duy trì thuốc giãn cơ truyền liên tục hay bolus ngắt quãng, nên sử dụng test kích thích thần kinh ngoại biên để theo dỏi độ sâu của giãn cơ
  • Sử dụng thuốc giãn cơ ngắn không quá 48 giờ ở bệnh nhân ARDS do nhiễm khuẩn nặng được điều trị ở giai đoạn sớm với PaO2/FiO2< 150mmHg.
6.7.Kiểm soát đường huyết
  • Sử dụng protocol kiểm soát đường huyết để điều chỉnh liều insulin ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết tại khoa HSTC khi đường huyết hai lần lien tiếp> 180mg% (10mmol/l). Mục tiêu điều chỉnh đường huyết theo protocol< 180mg% thay vì< 110mg% (6mmol/l).
  • Đường huyết cần được theo 1-2 giờ/lần, cho đến khi đường huyết và tốc độ truyền ínulin ổn định và sau đó mỗi 4 giờ.
  • Đường huyết thử bằng máu mao mạch cần được phân tích một cách cẩn thận bởi vì nó có  thể không chính xác so với đường huyêt máu tĩnh mạch hoặc động mạch.
6.8.Điều trị thay thế thận
  • Ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết nặng kèm suy thận cấp, điều trị thay thế thận bằng lọc máu liên tục hoặc ngắt quãng cho thấy hiệu quả tương đương.
  • Sử dụng điều trị lọc máu liên tục nhầm tăng khả năng kiểm soát cân bằng dịch ở bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng có huyết động không ổn định.
6.9. Sử dụng bicarbonate
     Không nên sử dụng bicarbonate nhằm mục đích cải thiện huyết động hoặc giảm liều thuốc vận mạch ở bệnh nhân nhiễm toan lactic gây ra do giảm tuowwí máu mô với pH≥7,15
6.10. Phòng ngừa huyết khối tĩnh mạch sâu
  • Bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết nặng cần sử dụng thuốc để phòng ngừa huyết khối tĩnh mạch sâu mỗi ngày. Nên sử dụng heparin trọng lượng phân tử thấp tiêm dưới da mỗi ngày
  • Bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết nặng nên kết hợp phương pháp phòng ngừa huyết khối bằng thuoóc và dụng cụ bơm hơi ngắt quãng ngay khi có thể.
  • Những bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết nặng có chống chỉ định heparin (VD: giảm tiều cầu, rối loạn đông máu nặng, chảy máu tiến triển, xuất huyết não gần đây) không nên sử dụng thuốc chống xuất khối, nên sử dụng các phương pháp phòng ngừa cơ học như tắt chun (vớ áp lực) hoặc máy tạo áp lực khi không có chống chỉ định. Khi nguy cơ xuất huyết giảm có thể sử dụng thuốc chống huyết khối.
6.11. Phòng ngừa loét do stress
  • Sử dụng thuốc ức chế H2 hoặc ức chế bơm proton để phòng ngừa loét do stress ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết nặng hoặc sốc nhiễm khuẩn có nguy cơ xuất huyết.
  • Nên sử dụng thuốc ức chế bơm proton để phòng ngừa loét do stress hơn là thuốc ức chế H2.
  • Những bệnh nhân không có yếu tố nguy cơ không cần phải phòng ngừa.
6.12. Dinh dưỡng
  • Nên nuôi ăn bằng đường miệng hoặc đường ruột nếu dung nạp được hơn là nhịn ăn hoàn toàn hoặc chỉ truyền glucose đường tĩnh mạch trong 48giờ đầu tiên sau khi chẩn đoán nhiễm khuẩn huyết nặng/sốc nhiễm khuẩn.
  • Trong tuần lễ đầu tiên, nên dinh dưỡng với liều thấp (tối đa 500 calories mỗi ngày) và tăng dần khi dung nạp hơn là dinh dưỡng đầy đủ ngay từ đầu.
  • Trong 7 ngày đầu, nên dinh dưỡng đường ruột cộng với glucose truyền tĩnh mạch hơn là chỉ dinh dưỡng hoàn toàn đường tĩnh mạch hoặc kết hợp dinh dưỡng đường ruột và dinh dưỡng đường tĩnh mạch toàn phần.
  • Nên sử dụng những thành phần dinh dưỡng có tác dụng điều hòa không đặc hiệu hơn là sử dụng những chế phẩm có tính điều hòa miễn dịch ở bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng
6.13. Xác định mục tiêu chăm sóc
  • Thảo luận mục tiêu chăm sóc và tiên lượng với bệnh nhân và gia đình
  • Phối hợp mục chăm sóc với điều trị nâng đỡ, giảm đau.
  • Cần đạt mục tiêu chăm sóc sớm nhất khi có thể nhưng không trễ hơn 72giờ sau nhập khoa HSTC.
7. THAM KHẢO CHO PHẦN KHÁNG SINH TRỊ LIỆU
Điều trị kháng sinh kinh nghiệm trong nhiễm khuẩn huyết và sốc nhiễm khuẩn
Trích từ Antibiotic essential 11st edition, editor Cunha BA, Physicians’ press 2012
Phân nhóm theo nguồn gốc Nguyên nhân        hay gặp  
                            Phát đồ điều trị nên dùng
Từ đường truyền TM trung tâm S.aureus(MRSA) Daptomycin 6mg/kg(IV)mỗi 24giờ x 2 tuần   hoặc Vancomycin 1g (IV) mỗi 12giờ x 2 tuần
S.epidermidis
S.aureus(MRSA).
Klebsiella
Enterobacter
Serratia
 Meropenem 1g (IV) mỗi 8 giờ x 2 tuần
Hoặc
Cefepim 2g (IV) mỗi 12 giờ x 2 tuần
Từ viêm phổi cộng đồng**
 
Viêm phổi bệnh viện
S.pneumoniae
H.influenzae
K. pneumoniae
Quinolon***(IV) mỗi 24 giờ x 2 tuần
Hoặc
Ceftriaxone 1g(IV) mỗi 24 giờ x 2 tuần
P.aeruginosa
K.pneumoniae
E.coli
S.marcescens
Meropenem 1g (IV) mỗi 8 giờ x 1-2 tuần                          Hoặc
Pipẻacillin/tazobactam 4,5g(IV) mỗi 6giờ+Amikacin 1g mỗi 24giờ x 1-2 tuần
 
Từ Ổ bụng vùng chậu Enterobacteriaceae
B.frgilis
Meropenem 1g (IV) mỗi 8 giờ x 2 tuần  Hoặc         Doripenem 1g(IV) mỗi 8 giờ x 2 tuần  Hoặc   Piperacillin/tazobactam 3,375g(IV) mỗi 6giờ x 2 tuần Hoặc Ertapenem 1g(IV) mỗi 24giờ x 2 tuần   Hoặc Ceftriaxon1g(IV) mỗi 24giờ x2tuần+Metronidazol 1g(IV) mỗi 24giờ x 2 tuần
Từ đường tiểu do cộng đồng
Nhiễm trùng bệnh viện
Enterobacteriaceae E.faecalis(VSE) Meropenem 1g (IV) mỗi 8 giờ x 2 tuần  Hoặc  Piperacillin/tazobactam 3,375g(IV) mỗi 6giờ x 1- 2 tuần      
 
S.pneumoniae Enterobacteriaceae
Meropenem 1g (IV) mỗi 8 giờ x 2 tuần                             Hoặc
 Piperacillin/tazobactam 3,375g(IV) mỗi 6giờ x 1- 2 tuần      
Không rõ nguồn Enterobacteriaceae B.frgilis Group D Streptôccci* (E.faecalis,VSE) Meropenem 1g (IV) mỗi 8 giờ x 2 tuần                             Hoặc 
Piperacillin/tazobactam 3,375g(IV) mỗi 6giờ x  2 tuần      
*Điều trị khởi đầu cho E.faecalis(VSE).Nếu sau đó phát hiện E.faecalis(VSE), điều trị theo phát đồ nhiễm khuẩn huyết do đường tiểu
**Viêm phổi cộng đồng thường không có tụt huyết áp/sốc ở các cá thể bình thường. Nên nghĩ  đến thiểu năng lách nếu viêm phổi cộng đồng có tụt huyết áp/ sốc
***Levofloxacin 750mg(IV) mỗi 24giờ hoặc Moxifloxacin 400mg (IV) mỗi 24 giờ
 

Nguồn tin: Khoa hồi sức tích cực

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Liên Kết Website
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây