THÔNG KHÍ NHÂN TẠO

Thứ ba - 01/12/2015 02:50
 
  1. ĐẠI CƯƠNG VỀ SUY HÔ HẤP :
Suy hô hấp là sự mất khả năng thu nhận oxy và đào thải CO2 đe dọa mạng sống, liên quan đến rối loạn trao đổi khí hay giảm thông khí hoặc cả hai. Biểu hiện của suy hô hấp thông thường bao gồm khó thở, sử dụng cơ hô hấp phụ, thở nhanh, tim nhanh, toát mồ hôi, tím tái và rối loạn tri giác…
Điều trị suy hô hấp bao gồm điều chỉnh nguyên nhân căn bản, cung cấp oxy, kiểm soát sự bài tiết và hổ trợ thông khí khi cần.
  1. THỞ MÁY :
Có 2 phương pháp thở máy : xâm lấn và không xâm lấn. Sự chọn lựa và sử dụng các kỹ thuật thích hợp cần hiểu biết về cơ học hô hấp.
2.1. Cơ học hô hấp :
Khi hít vào tạo ra áp lực âm trong màn phổi và tạo nên chênh áp không khí bên ngoài phổi và không khí đi vào phổi. Trong thở máy, chênh áp là kết quả của áp lực dương của luồng khí do máy tạo ra được đẩy vào đường hô hấp.
2.2. Áp lực đỉnh đường thở :
Được đo vào thời điểm mở đường thở (Pao) và được thể hiện trên màn hình máy thở. Đó là tổng áp lực cần để thắng trở kháng, lực đàn hồi của phổi và thành ngực và áp lực phế nang lúc bắt đầu hô hấp ( áp lực dương cuối kỳ thở ra – PEEP).
      Áp lực đỉnh đường thở = trở kháng + áp lực đàn hồi  + PEEP
       ( peak airway pressure = resistive     + elastic pressure + PEEP)
2.3. Trở kháng :
Là sản phẩm của sức cản và luồng khí. Trong bệnh nhân thở máy, sức cản đối với luồng khí xảy ra trong chu vi máy thở, ống nội khí quản và quan trọng nhất là trong đường thở bệnh nhân. Khi những thông số này hằng định, sự gia tăng luồng khí sẽ làm tăng trở kháng.
2.4. Lực đàn hồi :
Là kết quả của lực đàn hồi và thành ngực và thể tích khí được cung cấp.
Với một thể tích cho sẳn, lực đàn hồi tăng do tăng độ cứng của phổi ( xơ phổi, bệnh thành ngực, cơ hoành).
2.5. Áp lực cuối kỳ thở ra :
Trong phế nang bình thường giống áp lực khí quyển. Nhưng khi phế nang không trống hoàn toàn do tắt nghẽn đường thở, hạn chế luồng khí, hay thì thở ra bị rút ngắn thì áp lực cuối kỳ thở ra có thể dương so với khí quyển. Áp lực này gọi là PEEP nội sinh hay autoPEEP để phân biệt với PEEP được cho từ bên ngoài ( PEEP điều trị).
  • Bất kỳ sự gia tăng áp lực đỉnh đường thở (TD > 25 cm H2O ) cần phải đo ngay áp lực cuối kỳ hít vào (áp lực bình nguyên – plateau pressure) bằng cách giữ hơi thở cuối kỳ hít vào để xác định sự góp phần tương đối của trở kháng và lực đàn hồi. Nghiệm pháp giữ van thở ra đóng lại thêm 0,3-0,5 giây sau khi hít vào, làm trì hoãn thì thở ra.
  • Trong thời gian này, Pao giảm từ giá trị đỉnh của nó khi luồng khí ngừng. Áp lực dương cuối kỳ thở ra biểu hiện lực đàn hồi một khi PEEP được trừ đi ( giả dụ bệnh hân không co cơ hít vào hay thở ra lúc đo). Sự khác biệt giữa áp lực đỉnh và áp lực bình nguyên là trở kháng.
  • Trở kháng tăng (> 10 cmH2O) gợi ý bít tắt ống nội khí quản hay co thắt phế quản.
  • Tăng lực đàn hồi (> 10 cmH2O) gợi ý giảm độ chun giãn của phổi (lung compliance) do phù phổi, xơ hóa, xẹp phổi, tràn dịch màn phổi lượng lớn hay xơ hóa lồng ngực, hay do hạn chế ngoài phổi nhu bỏng quanh thành ngực, biến dạng lồng ngực, báng bụng, có thai hay béo phì quá mức.
  • PEEP nội sinh có thể đo bằng cách giữ hơi thở cuối kỳ thở ra. Ngay trước khi thở, cổng thở ra được đóng trong 2 giây. Dừng luồng khí, tức là loại trừ trở kháng, áp lực còn lại phản ánh áp lực phế nang cuối kỳ thở ra (PEEP nội sinh). Có một phương pháp không định lượng nhận biết PEEP nội sinh là quan sát đường biểu diễn thở ra. Nếu đường biểu diễn thở ra tiếp tục cho đến nhịp thở kế tiếp hay lồng ngực của bệnh nhân không hạ xuống đến mức nghỉ trước lần thở sau, thì co PEEP nội sinh. Hậu quả của tăng PEEP nội sinh bao gồm tăng công thở lúc hít vào và giảm máu trở về tim. Chứng minh có PEEP nội sinh cần phải tìm nguyên nhân gây tắt nghẽn dòng khí (chất tiết, co thắt phế quản) mặc dù thông khí phút cao một minh (> 20 L/p) có thể gây ra PEEP nội sinh trên bệnh nhân không có tắt nghẽn luồng khí. Nếu nguyên nhân là hạn chế luồng khí, rút ngắn thời gian hít vào làm giảm PEEP nội sinh (TD tăng dòng khí hít vào). Hoặc giảm tần số hô hấp sẽ cho phép một phân suất lớn hơn của chu kỳ hô hấp được dành cho thở ra cũng làm giảm PEEP nội sinh.
  1. CÁC MODE THỞ MÁY :
Máy thở được phân theo loại kiểm soát thể tích hay áp lực. Một số máy thế hệ mới có sự kết hợp cả hai. Vì áp lực và thể tích liên kết trực tiết bởi đường cong áp lực – thể tích, do đó bất kỳ thể tích nào sẽ có một áp lực tương ứng và ngược lại bất kể máy thở là thể tích hay áp lực.
Những thông số cài đặt khác nhau tùy theo mode thở nhưng gồm tần số thở, thể tích lưu thông, trigger, tốc độ dòng, dạng sóng và tỉ lệ hít vào / thở ra (I/E).
3.1. Thông khí kiểm soát thể tích :
Bao gồm 2 mode assist – control (A/C) và synchronized intermittent mandatory ventilation ( SIMV), máy thở cung cấp thể tích lưu thông cài sẵn và áp lực đường thở sẽ không cố định mà thay đổi theo trở kháng và đàn hồi của hệ thống hô hấp và thay đổi theo tốc độ dòng được bác sĩ cài đặt…
3.1.1 A/C : là phương thức đơn giản nhất và hiệu quả nhất. Mỗi cố gắng hít vào vượt quá ngưỡng thông số cài đặt sẽ kích động cung cấp một thể tích lưu thông định sẵn. Nếu bệnh nhân không trigger máy thở thường xuyên, máy sẽ khởi động thông khí nhằm đảm bảo tần số hô hấp mong muốn.
3.1.2 SIMV : cũng cung cấp thông khí theo tần số và thể tích cài đặt đồng thời với những cố gắng của bệnh nhân. Ngược lại các mode A/C, gắng sức của bệnh nhân vượt quá tần số hô hấp được cài đặt thì không được hỗ trợ, mặc dù van hít vào mở sẵn sàng cho không khí vào. Mode thở này vẫn còn phổ biến mặc dù nó không hổ trợ thông khí đầy đủ và cũng không phải là phương tiện hữu hiệu giải phóng bệnh nhân khỏi máy thở.
3.2. Thông khí áp lực :
Bao gồm thông khí kiểm soát áp lực (PCV – pressure control ventilation) và thông khí hỗ trợ áp lực (PSV – pressure support ventilation) và các phương thức không xâm lấn qua mask.
Thông khí qua các phương thức này, máy thở cung cấp một áp lực hít vào đã được cài đặt. Vì thế thể tích lưu thông thay đổi phụ thuộc vào trở kháng và độ đàn hồi của hệ hô hấp có thể gây ra những thay đổi thông khí phút không nhận biết được.
Vì nó hạn chế áp lực căng giãn của phổi nên mode thở này, về lý thuyết, tốt cho bệnh nhân ARDS mặc dù trên lâm sàng không biết nó có thuận lợi cho mode A/C hay không.
3.1.1.PCV : tương tự mode A/C ; mỗi cố gắng hít vào vượt quá ngưỡng được cài đặt sẽ hỗ trợ áp lực đầy đủ duy trì trong khoảng thời gian hít vào cố định. Tần số hô hấp tối thiểu được duy trì.
3.1.2. PSV : Tần số hô hấp tối thiểu không được cài đặt. Bệnh nhân cố gắng hít vào sâu hơn và dài hơn sẽ tạo ra thể tích lưu thông lớn hơn. Mode  này được dùng để cai máy cho bệnh nhân nhằm để họ cố gắng thở nhiều hơn. Mode thở tương tự là CPAP, trong đó áp lực hằng định được duy trì trong suốt chu kỳ hô hấp. Ngược lại với PSV, trong đó áp lực hít vào và thở ra có thể khác nhau, CPAP cho một áp lực giống nhau.
3.3. Thông khí áp lực dương không xâm lấn (NIPPV noninvasive positive pressure ventilation ) :
Cung cấp áp lực dương qua một mask áp chặt vào mũi hay cả mũi và miệng. Vì dựa trên nhịp thở tự nhiên của bệnh nhân nên giống mode PSV, mặc dù có thể sử dụng kiểm soát thể tích.
Bác sĩ sẽ cài đặt cả áp lực dương hít vào (IPAP) và thở ra (EPAP) và bệnh nhân sẽ trigger nhịp hô hấp. Vì đường hô hấp không được bảo vệ nên nguy cơ hít có thể xảy ra, bệnh nhân phải trong tình trạng tỉnh táo và có phản xạ bảo vệ đường thở.
Tránh sử dụng NIPPV cho bệnh nhân có huyết động không ổn định, liệt ruột, tắt ruột hay có thai vì bệnh nhân có thể nuốt một lượng khí lớn và gây ra viêm phổi hít đe dọa tính mạng.
Chuyển sang đặt nội khí quản và thở máy bao gồm : sốc, rối loạn nhịp thường xuyên, thiếu máu cơ tim, tri giác xấu hơn.
IPAP nên cài đặt dưới mức áp lực mở thực quản (20 cmH2O) để tránh bơm khí vào dạ dày.
  1. CÁC LƯU Ý KHI CÀI ĐẶT MÁY THỞ :
  • Thể tích lưu thông và tần số hô hấp sẽ cài đặt thông khí phút. Thể tích quá cao sẽ có nguy cơ căng phồng phổi. Tốc độ quá cao sẽ làm thời gian thở ra không đủ. Thể tích lưu thông thích hợp từ 8-9 ml/kg. Một số bệnh nhân với cơ học phổi bình thường (TD bệnh thần kinh cơ) có thể cần thể tích lưu thông lớn hơn nhằm ngăn chặn xẹp phổi. Một số bệnh lý (ARDS) có thể cần thể tích lưu thông nhỏ hơn.
  • Cài đặt mức trigger máy thở  thường là – 2cmH2O. Cài đặt quá cao làm những bệnh nhân yếu sức không thể trigger máy thở nhưng cài đặt quá thấp sẽ gây thông khi quá mức.
  • Tỉ lệ I:E : có thể điều chỉnh trong một số mode. Cài đặt ban đầu cho bệnh nhân có cơ học phổi bình thường là 1:3. Bệnh nhân có đợt cấp hen hay COPD nên cài đặt tỉ lệ 1:4 hay thậm chí hơn.
  • Tốc độ hít vào được điều chỉnh trong những mode thở khác (TD điều chỉnh hoặc là tốc độ hoặc là tỉ lệ I:E, không điều chỉnh cả 2). Dòng hít vào được điều chỉnh khoảng 60l/p nhưng có thể tăng đến 120l/p cho những bệnh nhân có hạn chế luồng khí.
  • PEEP có thể cài đặt cho bất kỳ mode thở nào. PEEP làm tăng thể tích phổi cuối kỳ thở ra và ngăn cản sự đóng sớm phế nang vào cuối kỳ thở ra. PEEP 5cmH2O thường được cài đặt nhằm hạn chế xẹp phổi. PEEP cao hơn giúp cải thiện cung cấp oxy trong những bệnh lý phế nang bị lấp đầy như phù phổi và ARDS bằng cách tái phân bố dịch phù từ phế nang vào mô kẽ và mở những phế nang bi xẹp. PEEP cho phép hạ thấp FiO2 trong khi vẫn duy trì cung cấp oxy động mạch đầy đủ. Điều này rất quan trọng trong hạn chế tổn thương phổi do tiếp xúc FiO2 cao kéo dài (> / = 60 %). Tuy nhiên PEEP cao làm tăng áp lực trong lồng ngực gây cản trở máu về tim sẽ thúc đẩy hạ huyết áp trên bệnh nhân giảm thể tích. PEEP quá thấp có thể mở đóng phế nang theo chu kỳ làm tổn thương phế nang do áp lực xé lập đi lập lại.
5 BIẾN CHỨNG CỦA THỞ MÁY :
5.1. Biến chứng liên quan đến nội khí quản :
Viêm xoang, viêm phổi kết hợp thở máy, tắt nội khí quản, tổn thương dây thanh, dò khí quản thực quản, dò khí quản mạch máu.
5.2. Biến chứng liên quan máy thở :
Tràn khí màng phổi, hạ huyết áp, tổn thương phổi liên quan máy thở ( tổn thương nhu mô và /hay đường thở xảy ra do đóng mở phế nang theo chu kỳ, căng giãn phổi hay cả 2).
Nếu tụt huyết áp xảy ra cần lưu ý biến chứng tràn khí màng phổi hay áp lực trong lồng ngực tăng cao do cài PEEP cao hay PEEP nội sinh do hen hay COPD, đặt biệt khi có giảm thể tích. Hạ huyết áp cũng do thuốc an thần được dùng khi đặt nội khí quản và thở máy. Nếu không co dấu hiệu của tràn khí áp lực hay các nguyên nhân liên quan đến thở máy gây hạ áp, thử ngắt máy thở và tiến hành bóp bóng 2-3 nhịp thở / phút với 100% oxy và truyền NaCl 0,9% 500-1000ml ở người lớn và 20 ml/kg ở trẻ em à cải thiện tức thì huyết áp sẽ gợi ý nguyên nhân liên quan đến thở máy và cài đặt thông số thở máy lại một cách hợp lý hơn.
5.3. Xuất huyết tiêu hóa và thuyên tắc-huyết khối :
Có thể xảy ra. Tất cả bệnh nhân thở máy nên phòng ngừa huyết khối tỉnh mạch sâu với heparin 5000 đv tiêm dưới da hay mang vớ ép liên tục. Để ngừa xuất huyết tiêu hóa, nên sử dụng ức chế H2 hay sucralfat 1g x4 / ngày. Ức chế bơm proton nên dành cho bệnh nhân đã chỉ định sử dụng hay đang xuất huyết.
Cách hiệu quả nhất để giảm biến chứng của thở máy là hạn chế thời gian thở máy.
6. THỞ MÁY TRONG CÁC BỆNH LÝ GÂY SUY HÔ HẤP :
6.1. Thở máy trong phù phổi do tim :
Áp lực hít vào dương làm giảm tiền tải và hậu tải thất và giảm công hô hấp. Giảm công thở giúp tái phân bổ cung lượng tim để cơ quan sinh tồn. Áp lực dương thơ ra (EPAP) hay áp lực dương cuối kỳ thở ra (PEEP) sẽ giúp tái phân bố phù phổi và mở các phế nang bị xẹp.
6.1.1.  NIPPV : giúp tránh đặt nội khí quản, với IPAP 10-15cmH2O và EPAP
           5-8cm H2O và FiO2 tối thiểu để duy trì SpO2 >/=90%.
6.1.2.  Thở máy xâm lấn : thường sử dụng mode A/C, với Vt 6 ml/kg, tần số
            25l/p, FiO2 100% và PEEP 5-8cmH2O. PEEP cần điều chỉnh lên
            2,5cmH2O trong khi giảm FiO­2 tới mức không độc.
           Thở máy hỗ trợ áp lực cũng có thể sử dụng với mức PEEP tương tự.
           Áp lực ban đầu sao cho cơ hô hấp được nghỉ đầy đủ theo đánh giá chủ
           quan của bệnh nhân, nhịp hô hấp và sử dụng cơ hô hấp phụ. Mức hỗ trợ
           áp lực 10-12 cmH2O (cao hơn PEEP).
6.2. Thở máy trong ARDS :
  • Ngoài việc cải thiện cung cấp oxy, giảm nhu cầu sử dụng oxy bằng cách cho cơ hô hấp được nghỉ ngơi, mục đích thở máy nhằm giữ áp lực đường thở bình nguyên < 30 cmH2O và Vt 6 ml/kg nhằm hạn chế tổn thương phổi thêm nữa vì căng giãn phế nang quá mức. Lý tưởng nên giữ FiO2 < 70% để hạn chế ngộ độc oxy.
  • Trước đây ta thường quan tâm đến bình thường hóa oxy máu và bỏ qua ảnh hưởng cơ học của sự căng giãn phế nang. Điều này làm tổn thương phổi khi Vt từ 10-12 ml/kg. Bệnh nhân ARDS có tỉ lệ chết thấp hơn khi thở với Vt 6 ml/kg. Thở theo cách này sẽ làm tăng tần số hô hấp lên tới 35l/p để hạn chế tăng tăng thán khí gây ra do giảm Vt. Tăng thán khí có thể làm bệnh nhân khó thở và chóng mặt , ta có thể thêm morphin hay liều cao hơn thuốc an thần (propofol) khởi đầu 5microgram/kg/p và tăng tác dụng tới liều 50microgram/kg/p. Cần theo dõi triglyceride mỗi 48 giờ.
  • PEEP cải thiện cung cấp oxy trong ARDS bằng cách tăng thể tích phổi được thông khí qua sự huy động phế nang, cho phép sử dụng FiO2 thấp hơn. PEEP thông thường 8-15 cmH2O, đôi khi trong trường hợp nặng tới 20 cm H2O.
  • Thủ thuật huy động phế nang:
  • Dùng 1 áp lực thở vào rất cao (thể tích lớn) để mở phế nang bị xẹp (mở phổi), kết hợp với PEEP để giữ các phế nang này không bị xẹp lại cuối thì thở ra (giữ cho các phế nang được mở).
  • Không có phương chuẩn, có nhiều cách (thực hiện 1 lần hay thực hiện theo bậc thang,tùy từng tổn thương: mô kẻ, hay cả phế nang+mô kẻ). Nếu tổn thương dạng mô kẻ ta có thể dung CPAP với áp lực 40-60cmH2O trong thời gian 30-60 giây. Hiên nay phương pháp được ưa chuộng nhất là bậc thang hoặc sử dụng PC với IP lên tới 50-60cmH2O trong vòng 1-2 phút. Có nghĩa là tăng dần áp lực hoặc sử dụng trực tiếp áp lực cao. Nhầm tim PEEP phù hợp ( PEEP tối ưu).
  • Chỉ số đánh giá tốt nhất sự căng phổi quá mức là đo áp lực bình nguyên qua nghiệm pháp giữ hơi thở cuối kỳ hít vào. Nên đánh giá mỗi 4giờ sau mỗi lần thay PEEP hay Vt. Áp lực bình nguyên mong muốn < 30 cmH2O. Nếu lớn hơn à phải giảm Vt 0,5-1 ml/kg tới mức tối thiểu 4 ml/kg, tăng tần số để bù trừ cho sự giảm thông khí phút và quan sát dạng sóng trên monitor máy thở để đảm bảo thở ra đầy đủ. Nếu áp lực bình nguyên < 25cmH2O và Vt < 6 ml/kg, Vt có thể tăng tới 6 ml/kg hay đến khi áp lực bình nguyên >25 cmH2O, một số tác giả tin PCV mode sẽ giúp bảo vệ phổi tốt hơn.
  • Thông thường, trên bệnh nhân ARDS nên bắt đầu bằng mode A/C với Vt 6 ml/kg, tần số 25 l/p, tốc độ dòng  60 l/p, FiO2 100% và PEEP 15 cmH2O. Khi SaO2 >90% à giảm FiO2 tới mức không độc (<60%). Sau đó PEEP giảm mỗi 2,5 cmH2O để đạt PEEP thấp nhất với SaO2 90% /FiO2  ≤ 60%. Tần số có thể tăng tới 35 l/p để đạt pH >7,15.
  • Cân nặng lý tưởng được sử dụng thay cho cân nặng thực tế để xác định Vt theo công thức sau :
IBW (kg)       nam : 50 + 0,91 (chiều cao cm -152,4) ;
nữ    : 45,5 + 0,91 ( chiều cao cm – 152,4)

6.3. Thở máy trong hen phế quản ác tính :
Bệnh nhân cần nhập HSTC&CĐ và cho thở máy không xâm lấn nhằm giảm công thở và tiến hành trước đặt nội khí quản trong khi chờ đợi tác dụng thuốc. Ngược lại với COPD, thường dung nạp tốt NIPPV, mask thường gây cảm giác khó thở ở bệnh nhân hen. Do đó bệnh nhân nên giữ mask và áp vào mặt mình và áp lực dương cần bắt đầu ở mức thấp từ 3-5 cmH2O. Khi bệnh nhân cảm thấy dể chịu, cần cột chặt mask lại và tăng áp lực lên nhằm giảm công thở ( qua đánh giá nhịp thở và sử dụng cơ hô hấp phụ). Thường cài đặt IPAP 10-15 cmH2O và EPAP 5-8 cmH­2O.
Chỉ định đặt nội khí quản thở máy bao gồm rối loạn tri giác, nới từng từ, thở nông, tư thế suy sụp, tăng PaCO2.
Cài đặt ban đầu cho thở máy xâm lấn : Vt 5-7 ml/kg, tần số 10-18 l/p. Dòng khí hít vào có thể cao tới 120 l/p với dạng sóng hình vuông. Cách thức thở này nhằm thông khí phút và tăng thời gian thở ra. Tăng ứ khí động học nguy hiểm xảy ra nếu áp lực bình nguyên <30 cmH2O và PEEP nội sinh < 15 cmH2O.
Sử dụng Vt thấp thường gây ra tăng thán khí. pH > 7,15 thường dung nạp tốt nhưng thường cần dùng liều cao an thần và gây nghiện. Nên tránh dùng thuốc ức chế thần kinh cơ vì thuốc này kết hợp với corticoids có thể gây ra bệnh cơ năng khó phục hồi, đặc biệt sau 24 giờ sử dụng phối hợp.
 
6.4.Thở máy trên bệnh nhân COPD :
6.4.1. NIPPV được xem là điều trị ban đầu thích hợp làm giảm tỉ lệ viêm
             phổi kết hợp thở máy, tỉ lệ tử vong , thời gian nằm viện so với thở máy
             xâm lấn. Khoảng 75% bệnh nhân COPD điều trị NIPPV không cần đặt
             nội khí quản. Bệnh nhân có thể ngưng tạm thời an uống. Cài đặt ban
             đầu đối với IPAP 10-15 cmH2O và EPAP 5-8 cmH2O, điều chỉnh theo
             đánh giá cảm giác chủ quản của bệnh nhân, tần số hô hấp, Vt và sử
             cơ hô hấp phụ. Bệnh nhân xấu hơn phải đặt nội khí quản dựa trên đánh
             giá lâm sàng, khí máu động mạch đôi khi nhầm lẫn.
6.4.2. Thở máy xâm lấn nhằm giảm sự ứ khí động học và PEEP nội sinh trong
             khi bảo vệ cơ hô hấp. Cài đặt ban đầu là mode A/C với Vt 5-7 cmH2O,
             tần số 20-24 l/p. Một số bệnh nhân cần tần số thấp hơn để hạn chế
             PEEP nội sinh. Để trung hòa PEEP nội sinh, PEEP ngoài nên cài đặt
             ≤ 85% PEEP nội sinh (cài đặt 5-10 cmH2O). Cách này làm giảm công
             thở và hiếm khi làm nặng ứ khí động học. Để tối đa hóa thời gian thở
             ra, nên sử dụng tốc độ dòng hít vào cao. Cài đặt này sẽ giảm thiểu nguy
             cơ kiềm máu.
6.5. Cai máy thở :
Ngưng thở máy đạt được không những bằng cách giảm dần mức hỗ trợ của máy thở mà còn nhận biết một cách hệ thống và loại trừ những yếu tố gây suy hô hấp. Khi đạt được những điều trên máy thở trở nên không cần thiết nữa. Tuy nhiên, nếu yếu tố kịch phát vẫn còn và bệnh nhân chưa phục hồi hoàn toàn, thì giảm nhu cầu hỗ trợ của máy thở có thể làm trì hoãn hồi phục của bệnh nhân. Thở tự nhiên hàng ngày trên ống T sẽ làm giảm thời gian thở máy so với mode SIMV. Một khi bệnh nhân không còn bị sốc nữa có SaO2 đủ với FiO2 < 50% và PEEP < 7,5 cmH2O, nhịp thở < 20 l/p à thở tự nhiên qua ống T hàng ngày hay thở CPAP 5 cmH2O. Bệnh nhân có khả năng tự nhiên thường thở chậm và sâu, thay vì thở nhanh nông. Chỉ số thở nhanh nông được xác định bằng cách Vt/nhịp thở tự nhiên không cần hỗ trợ. Nếu < 105 à thở tự nhiên có khả năng thành công. Quyết định rút nội khí quản phụ thuộc tình trạng tri giác, phản xạ bảo vệ đường thở cũng như sự thông thoáng của đường thở. Sử dụng thuốc an thần giảm dần càng sớm nếu có thể được.
 
-Tài liệu tham khảo: Xử lí SHH.GS Vũ Văn Đính+PGS.TS Nguyễn Gia Bình ( 2011 )

Nguồn tin: Khoa hồi sức tích cực

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Liên Kết Website
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây