XỬ TRÍ BƯỚC ĐẦU ĐƯỜNG THỞ TRONG CẤP CỨU

Thứ ba - 01/12/2015 02:34
Mục tiêu: Đảm bảo đường dẫn khí luôn thông suốt, cung cấp đủ oxy cho mô và có thể sử dụng thông khí áp lực dương khi hô hấp giảm hoặc ngưng thở.
1. Chỉ định:
Chỉ định hỗ trợ hô hấp thường chủ yếu dựa trên đánh giá lâm sàng, dấu hiệu và triệu chứng của thiếu Oxy và giảm thông khí. Các dấu hiệu đe dọa suy hô hấp bao gồm: Thở nhanh, khó thở, tím tái, kích động, nhịp thở > 35 lần/phút và sử dụng các cơ hô hấp phụ. Trong trường hợp tắc nghẽn 1 phần đường hô hấp, bệnh nhân biểu hiện bằng lo âu dữ dội, khò khè (whezzing) hoặc thở rít (stridor) rõ, người bệnh thường rất cố gắng để loại bỏ tắc nghẽn (ho sặc mạnh). Nếu tắc nghẽn hoàn toàn, ta sẽ không còn nghe được tiếng thở của hô hấp bình thường nữa.
Nếu thời gian cho phép, chúng ta có thể đánh giá 1 cách “chính quy” hơn các chỉ định của hỗ trợ hô hấp nhờ vào khí máu động mạch (Air blood gas) và máy đo SpO2 (pulse oxymetry):
SaO2 < 90% hoặc SpO2 < 90%.
PaO2 < 60 mmHg với FiO2 > 40% .
PaCO2 > 55 mmHg.
A - a gradient > 350 mmHg với FiO2 100%.
Các nguyên nhân thường gặp nhất trong cấp cứu đường hô hấp là: Ngưng tim ngưng thở (cardiopulmonary arrest), dùng thuốc quá liều, ngộ độc và tắc đường dẫn khí (do nôn ói, thức ăn, dị vật).
2. Kỹ thuật:
2.1. Tư thế bệnh nhân:
Mục tiêu đầu tiên là phải đảm bảo đường thở thông suốt, dù bệnh nhân có tự thở được hay không. Đặt bệnh nhân đúng tư thế rất quan trọng trong giữ thông suốt đường thở nhưng lại rất thường bị bỏ qua.
Tư thế ngửi hoa (sniffing): Đặt bệnh nhân nằm ngửa, cột sống cổ duỗi 1 góc khoảng 15 độ và duỗi khớp chẩm – đội (atlantooccipital joint) tối đa. Đây là tư thế người ta thường sử dụng khi ngửi hay đánh hơi. Tư thế này cũng có thể có được trong liệu pháp nâng cằm (chin lift maneuver) hay làm sái hàm (jaw thrust).
Đối với bệnh nhân béo phì, tư thế sniffing bình thường không đủ hiệu quả để làm thông suốt đường thở. Vì vậy, cần đặt thêm gối ở phần lưng trên bệnh nhân để đạt được hiệu quả tối đa.
Tư thế sniffing đúng ở người béo phì
2.2. Nghiệm pháp làm sái hàm:
Nghiệm pháp này là một trong những thao tác căn bản nhất và là phương pháp đầu tiên để thiết lập một đường dẫn khí thông suốt. Người thực hiện đứng về phía đầu nạn nhân, đặt các ngón tay ở hai bên góc hàm, kéo xương hàm dưới về phía trước.
2.3. Nghiệm pháp nâng cằm:
Nghiệm pháp nâng cằm cũng là thao tác rất căn bản trong thiết lập đường dẫn khí thông suốt. Người thực hiện đứng về phía đầu bệnh nhân, đặt các ngón tay vào vùng dưới hàm, tránh không đặt lên phần mô mềm vì động tác này sẽ nâng lưỡi lên cao và gây ra bít tắc nặng hơn. Nâng cằm ra phía trước và về phía trên. Có thể ngửa nhẹ đầu nạn nhân ra phía sau nhằm giúp mở rộng đường thở hơn.
2.4. Ống dẫn khí miệng – hầu (oropharyngeal airway):
Ống dẫn khí miệng hầu là một ống hình bán nguyệt dùng để giữ lưỡi không bị tụt về hướng thành họng sau. Các ống dẫn này chỉ được đặt cho bệnh nhân bất tỉnh, vì chúng có thể gây ra phản xạ co thắt thanh quản và nôn ói nếu đặt cho bệnh nhân tỉnh táo hoặc nửa tỉnh. Kích thước phù hợp cho người lớn là các ống 8.0, 9.0, 10.0 cm.
Cách đặt: Chọn ống dẫn khí có kích thước phù hợp bằng cách đặt ống cạnh miệng bệnh nhân, ống phù hợp có đầu xa nằm ngay trên góc hàm. Làm sạch máu, chất nôn ói... khỏi khoang miệng bằng ống hút Yankauer. Dùng ngón cái và ngón trỏ/ ngón giữa để nạy răng và giữ miệng bệnh nhân mở. Hướng chiều lõm của ống lên đầu bệnh nhân, đưa ống vào miệng bệnh nhân, sau khi ống vào hết chiều dài, xoay 1 góc 180 độ, như vậy, chiều cong bán nguyệt sẽ áp vào chiều cong của lưỡi.
Kích thước đúng của ống dẫn khí, đầu xa nằm ngay trên góc hàm.
Cách đặt airway đúng
Đặt ống dẫn khí miệng – hầu tuy đơn giản nhưng không phải là không nguy hiểm. Nếu đặt không đúng cách, lưỡi có thể bị đẩy sâu về phía sau, làm tắc nghẽn nặng hơn nữa vùng hầu họng. Môi và lưỡi có thể bị chấn thương, rách bị kẹt giữa ống và răng. Nếu chọn kích thước ống quá dài, có thể gây ra phản xạ đóng nắp thanh môn rất nguy hiểm.
Ống dẫn khí miệng - hầu có nhiều công dụng, bên cạnh tác dụng chính là giữ đường dẫn khí thông suốt, ống còn ngăn không cho bệnh nhân cắn, làm hư hại ống nội khí quản. Ống cũng ngăn cản không cho bệnh nhân cắn lưỡi trong cơn co giật và giúp cho việc hút sạch hầu họng dễ dàng hơn nhờ tác dụng đè lưỡi của nó.
2.5. Thông khí qua mặt nạ (mask ventilation):
Trong trường hợp nạn nhân còn tỉnh và có bằng chứng có dị vật, cần áp dụng liệu pháp Heimlich. Nếu nạn nhân đã bất tỉnh và dị vật có thể thấy rõ, có thể dùng tay hoặc dùng dụng cụ (forceps McGill) để lấy ra, hết sức cẩn thận nhằm tránh đẩy dị vật vào sâu hơn nữa.
Nghiệm pháp Heimlich
Sau khi đường hô hấp thông thoáng, đặt nạn nhân nằm ở tư thế đúng, cần đánh giá ngay xem bệnh nhân có tự thở không. Nếu bệnh nhân không tự thở và không có bằng chứng của dị vật, cần phải bắt đầu thông khí áp lực dương ngay.
Chìa khóa quan trọng nhất của thông khí áp lực dương bằng mặt nạ là phải giữ tư thế bệnh nhân đúng và sử dụng ống dẫn khí miệng – hầu kích thước phù hợp. Nếu ta đặt nạn nhân ở tư thế sai, khi tiến hành bóp bóng, không khí phần lớn sẽ bị đẩy vào dạ dày, làm tăng áp lực ổ bụng, gây giảm thông khí và nguy cơ trào ngược dịch dạ dày.
Mặt nạ được chọn cần phải có kích thước phù hợp với nạn nhân, mặt nạ phải phủ kín mũi và miệng nhưng không quá lớn để gây xì khí ra ngoài. Có 2 kỹ thuật để giữ mặt nạ khi bóp bóng:
* Kỹ thuật 1 tay: Dùng tay trái giữ mặt nạ, đặt 3 ngón 3, 4, 5 ở vùng dưới hàm nạn nhân, đặt ngón 2 ở vùng dưới và ngón 1 ở vùng trên của mặt nạ. Kỹ thuật này cho phép người thực hiện vừa nâng cằm và làm duỗi khớp chẩm – đội trong khi ấn mặt nạ xuống. Dùng tay phải để bóp bóng.
* Kỹ thuật 2 tay: Kỹ thuật này được áp dụng với bệnh nhân béo phì, lớn tuổi hoặc mất răng (edentulous). Cần có 2 người thực hiện. Người cầm mặt nạ đứng về phía đầu nạn nhân, dùng ngón 2, 3, 4, 5 của cả 2 tay giữ 2 bên vùng dưới hàm của nạn nhân, ngón cái dùng để ở trên giữ mặt nạ. Kéo hàm dưới của nạn nhân lên như trong thủ thuật làm sái hàm. Người còn lại bóp bóng.
3. Biến chứng:
Biến chứng nguy hiểm nhất của việc xử lý đường dẫn khí là hít phải dịch dạ dày, có thể gây nên viêm phổi hóa chất (chemical pneumonitis). Hiện tượng này được gọi là hội chứng Mendelson và có tỉ lệ tử vong là 50%. Nguy cơ này càng rõ ràng hơn khi xử lý cho bệnh nhân là phụ nữ có thai, béo phì, đái tháo đường...
Các biến chứng ít nguy hiểm hơn bao gồm chấn thương môi, lưỡi, xoang miệng và mi mắt, gãy răng. Liệt mặt, nếu có, thường lành tính và sẽ tự khỏi.
Tóm lại, xử lý ban đầu đường thở là một trong những kỹ thuật nền tảng mà tất cả các nhân viên y tế cần phải nắm vững. Chỉ cần 1 nguồn cung cấp Oxy, dụng cụ thực hiện thông khí áp lực dương (thường là bóng), chú ý đến tư thế đúng và sử dụng thêm ống dẫn khí, chúng ta đã có thể ngăn ngừa hạ oxy máu cũng như tăng CO2 máu cho bệnh nhân ngưng thở, góp phần rất quan trọng trong sơ cấp cứu ban đầu và giảm thiểu tỉ lệ tử vong.

Nguồn tin: Khoa hồi sức tích cực

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Liên Kết Website
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây