BỆNH SUY TĨNH MẠCH CHI DƯỚI

Thứ hai - 14/12/2015 09:01
I. CHẨN ĐOÁN
1. Bệnh nhân đến khám bệnh vì các lý do:
            - Tĩnh mạch giãn dạng lưới dưới da.
            - Biểu hiện các búi tĩnh mạch giãn ngoằn ngoèo.
            - Phù chân, mỏi chân, nặng chân, dị cảm chân, vọp bẻ.
            - Loét mặt trong cẳng chân, trên mắt cá chân.
2. Khám lâm sàng:
            - Hỏi bệnh sử, tiền căn bệnh tĩnh mạch, nghề nghiệp…
            - Tìm các dấu hiệu theo phân loại CEAP.
3. Chẩn đoán cận lâm sàng:
            Siêu âm tĩnh mạch xác định:
            - Tình trạng các van tĩnh mạch,cục máu đông trong lòng mạch.
- Dòng phụt ngược ở tĩnh mạch sâu, hiển lớn hay tĩnh mạch xuyên.
            - Đo đường kính của tĩnh mạch đùi, tĩnh mạch hiển để chẩn đoán.
4. Phân loại suy tĩnh mạch: Phân loại CEAP
4.1. Theo lâm sàng:
            CO: Bệnh nhân không có triệu chứng.
            C1: Giãn mao mạch dưới da hoặc giãn tĩnh mạch dạng lưới kích thước tĩnh mạch giãn < 3mm.
            C2: Giãn tĩnh mạch thành búi > 3mm.
            C3: Phù chân.
            C4: Thâm nhiễm thay đổi màu sắc da vùng trên mắt cá trong.
            C5: Loét chân đã lành.
            C6: Loét chân đang diễn tiến.
II. ĐIỀU TRỊ
1. Nguyên tắc hoặc mục đích điều trị
            a. Điều trị dòng máu phụt ngược trong lòng tĩnh mạch sâu, tĩnh mạch nông và tĩnh mạch xuyên.
            b. Điều trị búi tĩnh mạch giãn tại chỗ.
            c. Điều trị và dự phòng các biến chứng
2. Điều trị đặc hiệu
            a. Điều trị bằng thuốc:
            - Diosmin và Hesperidin có hiệu quả đối với các triệu chứng vọp bẻ, tê, nặng chân…
            - Rutosides có hiệu quả đối với triệu chứng phù chân.
            - Pentoxifylline, Diosmin và Hesperidin, PGE – 1, Nitrate kẽm trong điều trị loét do tĩnh mạch.
            b. Điều trị bằng băng ép áp lực:
            - Băng ép là phương pháp điều trị bệnh suy tĩnh mạch chi dưới chẩn mực nhất.
            - Băng ép giải quyết được các vấn đề bệnh suy tĩnh mạch: điều trị triệu chứng suy tĩnh mạch, phòng ngừa biến chứng sau phẫu thuật stripping, điều trị loét tĩnh mạch, dự phòng loét tái phát.
            - Trong trường hợp bệnh nhân già, bệnh nhân béo phì, bệnh nhân có bệnh động mạch kèm theo thì băng ép không có hiệu quả.
            - Băng ép sử dụng vớ y khoa hoặc băng thun.
            c. Điều trị bằng phẫu thuật rút bỏ tĩnh mạch (phẫu thuật stripping, phlebectomy)
            - Phẫu thuật stripping chỉ định cho mọi trường hợp cần bỏ đi tĩnh mạch hiển lớn hoặc tĩnh mạch hiển bé.
            - Phẫu thuật stripping rút bỏ tĩnh mạch hiển lớn từ vị trí đổ vào tĩnh mạch đùi cho tới dưới gối. Cột các nhánh bên gần chỗ đổ vào tĩnh mạch đùi để giảm tái phát.
            - Cắt bỏ các túi tĩnh mạch giãn tại những vị trí mà phẫu thuật stripping không lấy hết.
            - Băng ép sau mổ để giảm biến chứng tụ máu vết mổ.
            - Biến chứng thường gặp: chảy máu, tụ máu vết mổ, huyết khối tĩnh mạch sâu, nhiễm trùng vết mổ chiếm 1%, tổn thương thần kinh hiển chiếm tỉ lệ 5%.
            d. Điều trị bằng nhiệt (RFA, Laser nội mạch là 2 phương pháp sử dụng nhiệt để làm tắc tĩnh mạch loại bỏ dòng phụt ngược.
            - Chỉ định cho những tĩnh mạch hiển giãn không ngoằn ngoèo, dễ luồn catheter.
            - Các biến chứng có thể gặp: huyết khối tĩnh mạch sâu, phỏng da, nhiễm trùng, viêm tĩnh mạch, dị cảm da. Các biến chứng ít gặp và nhẹ.
            e. Điều trị bằng xơ hóa:
            - Xơ hóa là phương pháp chích chất gây xơ dưới dạng dung dịch hoặc dưới dạng bọt khí vào trong lòng tĩnh mạch gây phá hủy lớp tế bào nội mạc gây viêm dính trong lòng tĩnh mạch.
            - Chỉ định cho những tĩnh mạch hiển giãn < 12mm.
            - Chống chỉ định trong trường hợp: dị ứng thuốc tê, dị ứng thuốc gây xơ, huyết khối tĩnh mạch sâu cấp tính, bệnh lý đông máu, bệnh động mạch ngoại biên ABI < 0,8, đang mang thai. Chống chỉ định tương đối: thông liên nhĩ, đau đầu migraines, hội chứng Klippel – Trenaunay.
            -f . Điều trị biến chứng:
            -    Nhiễm trùng
            -    Kháng đông ngừa thuyên tắc
IV. TÁI KHÁM VÀ THEO DOI
            - Tái khám 1 tuần sau can thiệp.
            - Tái khám mỗi tháng để điều trị thuốc hỗ trợ tĩnh mạch ít nhất 6 tháng.
 
 
 

Nguồn tin: Khoa lão học

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Liên Kết Website
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây