HUYẾT KHỐI TĨNH MẠCH NÃO

Thứ hai - 14/12/2015 09:07
 
  1. ĐẠI CƯƠNG
Huyết khối tĩnh mạch não (HKTMN) là bệnh lý mạch máu não nghiêm trọng nhưng có thể điều trị được. Mặc dù ít gặp hơn so với đột quị tắc động mạch, nhưng HKTMN là nhóm nguyên nhân quan trọng phải luôn luôn nghĩ đến, đặc biệt ở bệnh nhân là phụ nữ mang thai, hậu sản, hoặc các tình trạng tăng đông. Trong hai thập niên qua, sự cải thiện về nhận thức HKTMN và kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh học não đã thay đổi về tần suất HKTMN. Khoảng 20% - 35% BN HKTMN vẫn chưa rõ nguyên nhân.
 
  1. CHẨN ĐOÁN
  1. Chẩn đoán xác định: dựa vào
Bệnh sử và lâm sàng: Thường gặp nhất là các dấu hiệu và triệu chứng thần kinh khu trú. Phụ nữ mang thai, hậu sản, hay bệnh nhân có bệnh lý tăng đông phải được nghĩ đến chẩn đoán khi có dấu hiệu thần kinh. Các triệu chứng hai bên bán cầu, co giật, nhức đầu, phù gai, hay các dấu hiệu tăng áp lực nội sọ khác được nghi ngờ chẩn đoán. Một vài trường hợp với hội chứng giả u não với nguyên nhân là huyết khối tĩnh mạch não.
Hình ảnh học
  1. CT Scan sọ não: tăng đậm đồ vùng xoang tĩnh mạch hoặc tĩnh mạch vỏ có huyết khối. Vùng nhồi máu tĩnh mạch trên phim CT Scan là vùng giảm đậm độ, phù, xuất huyết ở kế cận xoang tĩnh mạch, như cạnh đường giữa với xoang dọc trên, thuỳ thái dương với xoang ngang. Các vùng nhồi máu này vượt qua các giới hạn điển hình do các nhánh động mạch chi phối là dấu hiệu quan trọng gợi ý nguyên nhân tắc tĩnh mạch. Trên phim có chất tương phản có thể gặp dấu delta trống. CTV (CT venography) có hình ảnh khuyết thuốc tương phản ở các xoang tĩnh mạch có huyết khối.
  2. MRI: các tín hiệu có thể phù hợp với huyết khối giai đoạn cấp (đồng tín hiệu trên T1, giảm tín hiệu trên T2), hoặc bán cấp (tăng tín hiệu hên T1 và T2) cũng như các đặc trưng của nhồi máu tĩnh mạch, thường có hình ảnh chuyển dạng xuất huyết. MRV có thể có hình ảnh mất tín hiệu dòng chảy trong các  xoang tĩnh mạch bị tắc.
  3. DSA: đặc hiệu hơn CTV hay MRV. Nhưng thường không cần thiết để thành lập chẩn đoán.
  4. Chọc dò dịch não tuỷ: Các triệu chứng dịch não tuỷ không đặc hiệu. Áp lực dịch não tuỷ tăng, đạm tăng, và tế bào cũng có thể tăng.
Xét nghiệm: Các xét nghiệm sinh hoá giúp gợi ý nguyên nhân tăng đông, viêm nhiễm.
  1. Chẩn đoán nguyên nhân:
Một số YTNC di truyền và mắc phải thúc đẩy HKTMN đã được ghi nhận. Tuy nhiên, nguyên nhân HKTMN vẫn không xác định được trong khoảng 1/3 TH. Cần phân biệt giữa các nguyên nhân nhiễm trùng và không nhiễm trùng.
Nguyên nhân nhiễm trùng: nhiễm trùng ổ mắt, xoang chũm, tai giữa, mặt và viêm màng não là thường gặp nhất. Vi trùng: Staphylococcus aureus, Gram-negative bacilli và nấm: aspergillus thường được phân lập ở BN viêm tai và viêm xoang chũm. HKTM xoang hang gần như liên quan với nhiễm trùng các xoang cạnh mũi hoặc ổ mắt. Các nguyên nhân nhiễm trùng ngày nay ít gặp hơn, dự tính dưới 10% TH.
HKTMN không liên quan nhiễm trùng: phổ biến nhất là ung thư, rối loạn tăng sinh tuỷ, mất nước và thuốc ngừa thai, các rối loạn tăng sinh tuỷ, mất nước và thuốc ngừa thai, các rối loạn đông cầm máu (tình trạng tăng đông di truyền hoặc mắc phải), bệnh tạo keo, mang thai và chu sinh. Ở phụ nữtrẻ, HKTMN thường gặp ở chu sinh hơn là lúc mang thai. Các nguyên nhân cơ học như là: chấn thương đầu, phẫu thuật não hoặc catheterization tĩnh mạch cảnh là YTNC. Chọc dò tuỷ sống cũng có biến chứng HKTMN (giảm áp lực DNT gây có kéo, đẩy lệch não và các cấu trúc TM).
  1. Chẩn đoán phân biệt: các dạng đột quị não đường động mạch; u não; viêm xoang; viêm não; viêm não màng não; tổn thương não do chấn thương; sản giật; bệnh não chất trắng phần sau có hồi phục … Trong mọi TH cần nghĩ đến chẩn đoán HKTMN trong chẩn đoán phân biệt thì mới có thể đi đến chẩn đoán xác định.
  1. ĐIỀU TRỊ
  1. Nguyên tắc điều trị:
  • Phòng ngừa huyết khối tiến triển.
  • Điều trị tình trạng tăng áp lực nội sọ, co giật …
  • Lấy huyết khối hoặc điều trị ly giải huyết khối.
  1. Điều trị đặc hiệu
  1. Kháng đông heparin trọng lượng phân tử thấp (lovenox) kết hợp với kháng đông kháng vitamin K (warfarin, sintrom) được chỉ định cho hầu hết các trường hợp. Có lợi ở cả bệnh nhân có hay không chuyển dạng xuất huyết. Lovenox được dùng cho đến khi đạt được INR đích (2 – 3). Thời gian sử dụng kháng đông kháng vitamin K bao lâu chưa được thống nhất, quyết định dựa vào nguyên nhân và tình trạng giải phẫu như sự tái thông mạch và dòng máu bàng hệ (khoảng 06 tháng đến 01 năm trong TH không tìm được nguyên nhân).
  2. Ly giải huyết khối trực tiếp qua catheter và lấy huyết khối cơ học với phương pháp xuyên tĩnh mạch (transvenous cannulation) của xoang tĩnh mạch bị tắc có thể được chỉ định ở những bệnh nhân nặng do liên quan hệ tĩnh mạch sâu hoặc tình trạng lan rộng các xoang tĩnh mạch nông. Tuy nhiên chưa có đủ bằng chứng để cho phép khuyến cáo phương pháp điều trị này.
  3. Điều trị hỗ trợ: chống động kinh, điều trị tăng áp lực nội sọ, dinh dưỡng, bù nước điện giải, săn sóc BN liệt, hôn mê ….
  1. THEO DÕI VÀ TÁI KHÁM
Đây là nhóm BN cần thiết theo dõi sát tình trạng đông cầm máu, cần theo dõi tại các cơ sở có thể kiễm tra INR và có kinh nghiệm điều trị kháng đông. Thời gian đầu có thể theo dõi mỗi tuần, sau đó có thể mỗi tháng khi ổn định hơn đảm bảo hiệu quả điều trị kháng đông. Cần kiểm tra CT Scan hoặc MRI khi có các triệu chứng hoặc dấu hiệu tái phát hoặc biến chứng do thuốc kháng đông. Chú ý tráng các thuốc có tương tác với các thuốc kháng đông đang sử dụng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
  1. Kalbag R, Woolf A: Cerebal Venous Thrombosis. London, Oxford University Press, 1967.
  2. Stam J: Thrombosis of ther cerebral veins and sinuses. N Engl J Med 2005; 352: 1791 – 1798.
  3. de Veber G, Andrew M, Adams C, et al: Cerebal snovenous thrombosis in children. N Engl J Med 2001; 345: 417 – 423.
  4. Cantu C, Barinagarrementeria F: Cerebal venous thrombosis associated with pregnancy and pueroerium. A review of 67 cases. Stroke 1993; 24: 1880 – 1884.
  5. Daif A Awada A, Al – Rajeh S, et al: Cerebal venous thrombosis in adult. A study of 40 cases from Saudi Arabia. Stroke 1995; 26: 1193.
Deschiens M, Canard J, Horellou M, et al: Coagulation studies, factor V Leiden and anticardi – olipin antibodies in 40 cases of cerebal venous sinus thrombosis. Stroke 1996; 27: 1724 – 1730.

Nguồn tin: Khoa nội thần kinh

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Liên Kết Website
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây