BỆNH TRÀO NGƯỢC THỰC QUẢN – DẠ DÀY

Thứ hai - 14/12/2015 19:32
I. ĐẠI CƯƠNG
  Trào ngược thực quản dạ dày (TQDD) là hiện tượng sinh lý bình thường, đặc biệt sau bữa ăn. Bệnh trào ngược TQDD xảy ra khi dịch dạ dày trào ngược len thực quản quá mức giới hạn gây ra triệu chứng có/không ddi kèm tổn thương niêm mạc thực quản ( Ví dụ: viêm thực quản)
  Trong một nghiên cứu củ Richter và tổ chức quốc gia Gallup, Hoa kỳ đã ước tính 20%-40% những người khỏe mạnh có biểu hiện ợ nóng ( hearburn), ít nhất 1 lần/ tháng. Khoãng 7%-10% dân số có cùng triệu chứng trên mổi ngày.
   Trên hầu hết bệnh nhân bị GERD, xơ chế đề kháng tự nhiên của thực quản hạn chế tối đa tác dụng xấu của chất trào ngược từ đày, cơ chế bảo vệ này bao gồm: hoạt động của cơ vòng thực quản dưới (LES) và nhu động  thực quản. khi cơ chế này bị suy yếu GERD bát đàu xuất hiện
II. CHẨN ĐOÁN
  1. Triệu chứng lâm sàng
     Các triệu chứng của GERD có thể điển hình hoặc không điển hình.
       - Các triệu chứng điển hình: Ợ nóng hoặc cảm giác nóng rát sau xương ức, ợ chua/trớ
       - Các triệu chứng ngoài thực quản: đau ngực không do bệnh lý tim. Hen phế quản, viêm phổi thùy, viêm phổi hít, viêm họng tái phát, chứng bào mòn răng.
       - Các thuốc có thể gây GERD do giảm co thắt cơ vòng thực quản dưới / tổn thương trực tiếp niêm mạc thực quản: đồng vận Bêta adrenergic, đối vận alpha adrenergic, anticholinergic, ức chế kênh Calci, theophylline, Estrogen, chống trầm cảm 3 vòng, alendronate, aspirin, muối sắt, NSAIDS, potassium chloride, tetracyclince.
       - Các thực phẩm và lối sống là những yếu tố thúc đẩy hoặc làm biểu hiện GERD nặng hơn: café, chocolate, bạc hà, cồn, nước uống có gas(cola, p=2,75), nước chanh, sốt cà, giấm, tăng cân quá mức, hút thuốc, ăn trước khi đi ngủ.
  2. Triệu chứng cận lâm sàng
       - Xác định mức độ tổn thương niêm mạc thực quản cần được đánh giá qua nội soi(phân loại Los Angeles) đặc trưng trong trường hợp có những triệu chứng báo động: nuốt khó, nuốt đau vùng hầu họng, sụt cân, xuất huyết tiêu hóa, thiếu máu, tuổi cao, tiền sử gia đình có người mắc bệnh ung thư ống tiêu hóa trên.
      - Các xét nghiệm đôi khi cũng giúp ích cho chẩn đoán GERD, Manometry thực quản và đo PH trong 24 giờ rất cần thiết trước khi chỉ định phẩu thuật.
      - Khoảng 50% trường hợp không thấy tổn thương qua nội soi
      - Sự trào ngược cũng thường xãy ra trên sản phụ
3. Biến chứng:Loét thực quản, hẹp thực quản, bệnh Barrett TQ, ung thư thực quản
III. ĐIỀU TRỊ
     - Thay đổi lối sống: Tránh dùng các thực phẩm và nứơc uống có cồn ,gas ( xem phần những yếu tố thúc đẩy) tránh ăn trước khi ngủ 2 giờ , nằm đầu cao khi ngủ, cần chia nhỏ ra nhiều bữa ăn , không xiết hoặc mặc quần áo quá chật, ngưng hst thuốc lá và tránh tăng cân.
    - Kiểm soát tốt sự bài tiết/trung hòa acid băng thuốc:
      + Thuốc trung hòa acid giúp giảm nhanh các triệu chứng, dùng ngăn ngày uống sau ăn 1 giờ và 3 giờ.
      + Thuốc ức chế thụ thể H2: có tác dụng tốt thể GERD nhẹ / trung bình 1 viên x 2 uống trước khi ăn 15- 30 phút
      + Ức chế bom proton: có chỉ đinh dùng trong GERD thể trung bình / năng/ có biến chứng; liều chuẩn 1 viên trước khi ăn 30 phút, kéo dài trong 4-8 tuần . nếu không đáp ứng tăng liều gấp đôi, dùng trong 4- 8 tuần. lưu ý việc dùng PPI có thể duy trì lâu dài và tùy theo yêu cầu của bệnh nhân. Tuy nhiên, PPI có thể làm giảm hấp thu sắt , calci,vitamine B12 và magnesium máu cần theo dỏi và điều trị bù trừ khi cần thiết . tránh dùng phối hợp omeprazole với Clopidrogel do tác dụng ức chế men CYP2C19 . gần đay, có nhiều báo cáo PPI có thể gây tăng sinh khuẩn, nhiểm Clostridium difficile khi dùng lâu dài, liên tục >5 năm.
    - Điều trị ngoại khoa: Chỉ định khi điều trị nội khoa thất bại/theo yêu cầu bệnh nhân không muốn dùng thuốc lâu dài. Phương pháp phẩu thuật tạo hình Nissen . biến chứng sau phẩu thuật ( 5%-20%): nuốt khó, đau ngực, HC ứ hơi , sa dạ dày và tiêu chảy do tổn thương dây thần kinh X . tỉ lệ tử vong <1%. Khoãng 62% bệnh nhân phải dùng thuốc PPI sau phẩu thuật trung bình 10 năm.
Bệnh trào ngược không viêm thực quản (NERD)
   Khoãng 50% bệnh nhân có triệu chứng trào ngược điển hình như GERD nhưng không kèm sự trào ngược acid. Điều trị như GERD. Tuy nhiên, sự đáp ứng với các thuốc trung hòa/ức chế tiết acid kém, có thể dùng thêm thuốc chống trầm cảm 3 dòng để cải thiện triệu chứng
IV. DIỂN TIẾN VÀ DỰ HẬU
   Chiến thuật điều trị là thay đổi lối sống tích cực và giảm liều dần nhưng vãn duy trì  được sự cải thiện triệu chứng lâu dài (2-3 tháng) tỷ lệ tái phát # 80%  sau khi ngưng thuốc trên bệnh nhân viêm thực quản trào ngược. đăc biệt thường găp tren BN>50 tuổi; cần theo dỏi đinh kỳ qua nội soi mổi 6 tháng đẻ phát hiện sốm ung thư thực quản
 

Nguồn tin: Khoa nội tiêu hóa

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin cũ hơn

Liên Kết Website
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây