ĐAU BỤNG CẤP

Thứ ba - 15/12/2015 07:24

I/ ĐẠI CƯƠNG
   Đau bụng là một trong những dấu hiệu chức năng hay gặp nhất trong các bệnh về tiêu hóa: nhiều khi chỉ dựa vào triêu trứng đau người thầy thuốc có thể sơ bộ chẩn đoán hay hướng về một bênh nào đó. Tuy nhiên đau là một cảm giác chủ quan,phụ thuộc nhiều vào cá tính của từng người mà không phản ánh hoàn toàn tình trạng của
bệnh,không thể dựa vào tình trang đau nhiều hay đau ít để đánh giá mức độ bệnh năng nhẹ.Do đó triệu chứng đau chỉ có tính chất gợi ý đầu tiên khiến cho thầy thuốc dựa vào đó tiến hành hỏi bệnh và thăm khám chẩn đoán bệnh
1. cơ chế sinh lý bệnh của hiện tượng đau bụng
Do 4 cơ chế sau:
a/Một tạng rổng ở trong ổ bụng bị căng dãn đột ngột: căng dãn dạ dày,căng dãn ruột đột ngột
b/Nhu động co bóp tăng lên quá mức gây nên một áp lực cao hơn bình thường:tăng nhu động dạ dày,ruột tăng co bóp túi mật(hẹp môn vị,tắt ruột,sỏi mật)
c/màng bụng bị đụng chạm kích thích:thủng dạ dày,viêm màng bụng,chấn thương ổ bụng
d/Những kích thíchbệnh lý lên thần kinh:những kích thích nay tác động lên các sợi  thần kinh giao cảm / ở nội tạng và gây nên đau:áp xe gan,viêm tụy tang
II CHẨN ĐOÁN
Trước một người bệnh đau bụng ta phải tiến hành thswm khám lần lượt
1/Hỏi bệnh
  1. Hỏi về đặc tính của đau
1.1.1/Vị trí đầu tiên của đau. Nhiều khi có giá trị quang trọng trong chẩn đoán.Thường vị trí đau tương đương với cơ quan bên dưới thí dụ:
-vùng thương vị:dạ dày , tá tràng,đại tràng ngang…
-vùng hạ sườn phải: gan, túi mật…
-vùng hố chậu phải: ruột thừa…
1.1.2. Hoàn cảnh xuất hiện đau
-Đau do thủng dạ dày thương đột ngột
-Đau quặn gan,quăn thận xuất hiện sau khi vận động nhiều…
1.1.3. Hướng lan:có thể: có thể lan ra sau lưng, lên ngực,lên vai,xuống dưới
-Đau dạ dày thường lan ra sau lưng và lên ngực
-Đau quặn gan lan lên ngực và lên vai
-Đau do niệu quản lan xuống bộ phận sinh dục và đùi
1.1.4. Tính chất của đau : Có thể chia thành 5 loại tính chất đau như sau :
- Cảm giác đầy bụng : là cảm giác đầy trướng , nặng bụng, ậm ạch khó tiêu
- Đau thực sự : tùy theo cảm giác của từng người bệnh, có thể đau như dao đâm( thủng dạ dày), đau xoắn vặn, đau nhoi nhói, đau âm ỉ...
- Đau quặn : Là đau từng cơn ở 1 vị trí nhất định. Trội lên rồi dịu dần cho đến cơn sau. Ở ruột cơn đau dịu đi sau khi trung tiện hoặc đại tiện và đau là do một đoạn ruột bị trướng hơi đột ngột ; hội chứng koenig : bán tắc ruột. Ở ống tiết như  ống mật, túi mật, niệu quản, cơn đau quặn là do sự co bóp quá mạnh gây nên tăng áp lực đột ngột và tạo thành cơn đau quặn gan và quặn thận.
- Cảm giác nóng rát : Thường là cảm giác nóng bỏng, cồn cào ở dạ dày : cảm giác này gây nên tình trạng nhạy cảm của niêm mạc dạ dày.
- Hội chứng đau đám rối thái dương : đau dữ dội ở thượng vị đột ngột rối loạn tiêu hóa, ảnh hưởng đến tình trạng toàn thân.
1.1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến đau : Vận động, thời tiết, ăn uống, thuốc men...
   1.2. Hỏi về các biểu hiện kèm theo.
- Các biểu hiện liên quan đến bộ phận có bệnh : Nôn mữa, rối loạn đại tiện, vàng da, vàng mắt, đái máu, đái đục, kinh nguyệt...
- Các biểu hiện toàn thân : Sốt, ngất, trụy tim mạch..
   1.3. Hổi tiền sử : nghề nghiệp
- Thí vụ cơn đau bụng do ngộ độc chì.
- Các bệnh mắc từ trước, giang mai, kiết lỵ...
- Đặc biệt chú ý tới tính chất tái phát nhiều lần của những cơn đau giống nhau : đau vùng thượng vị có chu kỳ thường do loét dạ dày hành tá tràng
- Đau vùng hạ sườn phải kèm theo sốt và vàng da tái phát nhiều lần, gặp trong sỏi mật...
2. Khám
  2.1 Khám toàn thân : Theo dỏi mạch, huyết áp, nhiệt độ, nhịp thở...
Đặc biệt chú tới một số tình trạng toàn thân như :
  • Tình trạng sốc : gặp trong một số bệnh có tính chất cấp cứu như thủng dạ dày, viêm tụy cấp chảy máu, thai ngoài tử cung bị vỡ
  • Tình trạng trụy tim mạch : Đối với nguyên nhân gây chảy máu trong.
  • Vàng da, vàng mắt trong những bệnh gan mật
  • Tình trạng suy kiệt trong những bệnh mạn tính ( ung thư, lao…)
  • Tình trạng nhiễm khuẩn: Viêm màng bụng, áp xe gan
2.2. Khám bụng: Kết hợp nhìn, sờ, gỏ, nghe, thăm khám trực tràng âm đạo.
  2.2.1. Đặc biệt chú ý đến một số điểm đau như: điểm đau ruột thừa( điểm Macburney) điểm túi mật( làm nghiệm pháp Murphy) điểm sườn lưng, điểm niệu quản…
  2.2.2. Một số triệu chứng cấp cứu ở bụng như:
- Thành bụng không di động theo nhịp thở, cứng như gỗ, các cơ thành bụng nỗi rõ, Gõ vùng trước gan trong: thủng nội tạng rỗng( dạ dày, ruột…)
- dấu hiệu rắn bò: Hẹp môn vị, tắc ruột. lồng ruột…
  2.2.3. Thăm trực tràng và âm đạo: Là động tác rất cần thiết và quan trọng có thể phát hiện một số tình trạng cấp cứu như; thai ngoài tử cung bị vỡ có túi cùng Douglas phồng, rất đau( tiếng kêu Douglas), viêm màng bụng: các túi cùng rất đau.
  2.2.4. Xem phân, các chất nôn và nước tiểu…
3.Xét nghiệm lâm sàng.
- Sau khi hỏi bệnh và thăm khám, tùy theo nguyên nhân ta làm một số xét nghiệm khác nhau. Về X quang có thể cho biết một số tình trạng cấp cứu như hình liềm hơi trong thủng dạ dày, thủng ruột, hình mức nước và hơi trong tắc ruột.
- Sau khi kết hợp cả ba mặt hỏi bệnh,thăm khám và xét nghiệm,ta có thể và phải phân biệt ba loại tình tràng đau bụng khác nhau để có thể có thái độ quyết định xử trí khác nhau,
III/CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
    Phải loại trừ đau bụng mạn tính:Đó là trương hợp đau bụng diễn biến kéo dài hàng tuần,hàng tháng,về phương diện điều trị cũng đòi hỏi thời gian lâu dài.
    Nhiệm vụ của những người thầy thuốc đứng trước một người bệnh đau bụng là phải phân biệt hai tình trạng đau bụng dưới đây đễ có thái độ xữ trí kịp thời nhất là phải phát hiện tát cả những trường hợp đau bụng có tính chất cấp cứu ngoại khoa. Nhưng thực tế nhiều khi rất khó: thí dụ bệnh loét dạ dày diễn biến kéo dài nhưng có những đợt đau cấp và ổ loét thủng sẽ gây nên tình trạng cấp cứu ngoại khoa; vì vậy người thầy thuốc phải thăm khám kỹ lưỡng, theo dỏi cản thận đễ phân biệt và phát hiện kịp thời.
 1.Đau bụng có tính chất ngoại khoa
Gồm những tiến triển rất nhanh chống dẫn đến tử vong,cần phải chẩn đoán xớm và xử trí phẩu thuật kịp thời và nhanh chống. thí dụ: thủng dạ dày, viêm ruột, tắt ruột thừa…
 2 .Đau bụng cấp nội khoa
Đó là những cơn đau bụng đột ngột hoặc cơn đau trội lên của tình trạng đau bụng kéo dài, thường biểu hiện những bệnh cần xử trí kịp thời bằng phương pháp nội khoa,không dùng đến phẩu thuật. ví dụ: giun chui ống mật, viêm ruột cáp, cơn đau cấp của loát dạ dày tá tràng…
    Sau khi phân biệt các tình trạng dau bụng khác nhau, muốn quyết định thái độ xử trí cần tìm nguyên nhân đã gây nên đau bụng, vì đau chỉ là một triệu chứng mà bất kỳ của một nội tạng  nội tạng trong ổ bụng cũng có thể gây nên, trước khi đi vào phần nguyên nhân ta cần biết hiện tượng đau được tạo thành do những cô chế nào?
V/ CHẨN ĐOÁN NGUYÊN NHÂN
Dưới đây chỉ giới thiệu một số nguyên nhân chính gây nên đau bụng với những dấu hiệu chủ yếu để có một khái niệm rất chung rất đại cương về một số bệnh thông thường với đau bụng là một khái niệm rất chung biểu hiện rất nhiều bệnh mà trong phạm vi bài này không có mục đích đi sâu vào từng bệnh
 1/ Những nguyên nhân gây ra đau bụng
     Để thuận lợi trong việc thăm khám và chẩn đoán. ta sẽ phân chia theo vị trí của vùng  đau,vì tùy vị trí xuất phát của đau bụng ta sẽ có những gợi ý chẩn đoán khác nhau.
  1.1. Đau ở vùng thương vị và phần bụng trên
    1.1.1. Đau bụng có tính chất ngoại khoa
     - Thủng dạ dày: Đau ổ đây đột ngột có đặt điểm:
        + Đau dữ dội ở vùng thượng vị như dao đâm
        + Tình trạng toàn thân: sốc, mạch nhanh,hốt hoảng lo lắng, kèm theo rối loạn tiêu hóa : nôn ,bí trung đại tiện
        + Khám thành bụng có phản ứng thành bụng. gỏ mất vùng đục trước gan vì có hơi
        + X quang thấy liềm hơi trên gan và trên dạ dày.
        + Thường có tiền sữ đau dạ dày từ trước, nhưng có khi không
  -Viêm tụy tạng cấp
    + Dau ổ vùng thượng vị lan ra sau lưng, thường xuất hiện đột ngột sau bữa ăn
    + Tình trạnh sốc mạnh: mạch nhanh, huyết áp hạ…
    + Khám thấy bụng có phản ứng hôi căng,ấn vùng thương vị và đặc biệt là điểm sườn lưng rất đau
    + Lượng amylas trong máu tăng cao
Đau bụng có tính chất nội khoa
  • Cơn đau dạ dày cấp do loét hoặc viêm(kể cả tá tràng)
       + Đau nhiều ở vùng thương vị có kèm theo nôn ra nước chua và thức ăn
       + Không có phản ứng thành bụng và mất vùng đục trước gan
       + Trong tiền sữ thường có cơn đau theo chu kỳ, xuất hiện vào những giờ nhất định liên quan đến bữa ăn trong ngày và vào những mùa nhất định trong năm.
- Rối loạn vận động túi mật và đường mật
  + Do túi mật hoăc cơ tròn Lutchkens co bóp không đều, gây nên những cơn đau quặn gan diển hình từ hạ sườn phải lan lên vai phải ( đau điểm dây đeo quần) nhưng:
* Không sốt, không vàng da, vàng mắt
* Thường xảy ra ở người trẻ
* Ta có thể gây lại cơn đau bằng cách ấn nhanh vào vùng túi mật
 - Cơn đau dạ dày trong bệnh tabét và giang mai thần kinh ( giang mai giai đoạn III)
               * Đau dữ dội vùng thượng vị dột ngột
               * Thường kèm theo nôn rất nhiều
               * Cơn đau mất đi cũng rất đột ngột như lúc đầu, ngoài cơn đau người bệnh hoàn toàn bình thường
               * Bệnh này ngày nay rất hiếm găp
   1.1.3. Những loại đau bụng cấp nội khoa có thể chuyễn thành tình trạng ngoại khoa, cần phải theo dỏi đẻ phát hiện và xử trí kip thời
    - Áp-xe gan:
             * đau vùng thương vị lan lên ngực, đau không dám cử động mạnh và thở mạnh
             * Toàn thân có dấu hiệu nhiểm khuẩn( sốt, môi khô, lưỡi bẩn, bạch cầu tăng…)
             * Khám thấy gan to và rất đau
             * Khi áp-xe gan tiến triển vỡ vào ổ bụng sẽ gây tình trạng viêm màng bụng cấp: Bụng cứng và có phản ứng mạnh, bất động không theo nhịp thở, tình trạng nhiểm khuẩn nặng.
   - Sỏi mật:
             * gây những cơn đau quăn gan điển hình
             * Tiếp theo là sốt và vàng da
             * Bệnh có thể có biến chứng lan rộng, vỡ vào màng bụng gây viêm màng bụng giống áp-xe gan
  - Viêm túi mật
      * đau vùng túi mật lan lên vai kèm theo hội chứng nhiểm khuẩn
      * Khám,ấn vào điểm túi mật rất đau và làm nghiệm pháp murphy thấy dương tính: người bệnh hít vào sâu trong đó ta đè ngón tay sâu dần vào điểm túi mật đến một lúc nào đó,vì đau người bệnh sẽ dừng đột ngột không dám hít vào nữa.
      * Viêm túi mật có thể vỡ vào ổ bụng gây nên tình trạng viêm màng bụng giống như áp-xe gan hoặc mật có thể thắm qua vách túi mật,gây nên tình trạng nhiểm mật màng bụng và cũng có dấu hiệu viêm màng bụng.
  - Giun chui ống mật
      * Đau đột ngột, dữ dội và lăn lộn, ở vùng thượng vị và hạ sườn phải ( người bệnh thường phải nằm chỏng mông dựng hai chân lên giường cho đở đau)
      * Khám thấy điểm sườn lưng va mũi ức rất đau.
      * Tiền sử người bệnh có nhiều giun( nôn và đại tiện ra giun). Bệnh thường được theo dỏi và điều trị nội khoa nhưng nếu có biến chứng ( tắc mật, áp-xe, thủng..) thì trở thành cấp cứu ngoại khoa, cần phẩu thuật.
1.2. Đau ở vùng hố chậu và bụng dưới
   1.2.1. Đau bụng ngoại khoa
      - viêm ruột thừa
         * đau âm ĩ ở vùng hố chậu phải
         * Rối loạn tiêu hóa: buồn nôn, nôn bí trung đại tiện, có khi tiêu lỏng
         * Khám ấn vào điểm ruột thừa Mac Burney rất đau, có khi có phản ứng thành bụng vùng hố chậu phải.
         * Hội chứng nhiễm khuẩn:sốt và bạch cầu trong máu tăng, thăm trực tràng hay âm đạo, thấy đau vùng túi cùng bên phải.
    - U nang buồng trứng bị xoắn:
         +  Đau vùng hố chậu dữ dội và đột ngột.
         + Tình trạng sốc.
         + Khám bụng và thăm âm đạo thấy khối u ở một bên vùng hố chậu.
            Theo dõi thấy khối u to nhanh.
  • Thai ngoài tử cung vỡ:
+ Người bệnh tắt kinh 2, 3 tháng, đột nhiên đau vùng hố chậu hoặc bụng dưới, ra máu ở âm đạo.
 + Đặc biệt có tình trạng chảy máu trong: thiếu máu nhanh chóng, mạch nhỏ và nhanh, huyết áp hạ, người bệnh bị ngất mỗi lần ngồi lên hoặc thay đổi tư thế, hồng cầu giảm nhanh.
 Thăm âm đạo, thấy túi cùng sau phồng( túi cùng Douglas), đồng thời khi rút tay ra thấy có máu theo gant.
  1.2.2 Đau bụng nội khoa
   - Đau bụng kinh( thống kinh): Đau ở vùng hạ vi hoặc hố chậu, cơn đau thường tương ứng với thời kì kinh nguyệt.
  - Viêm đại tràng cấp do amip: thường đau ở hố chậu phải và trái( vùng hồi nanh tràng và đại tràng sigma). Có hội chứng kiết lỵ( đại tiện ra máu nhầy).
1.3 Đau toàn bụng hoặc đau không rõ vị trí
 1.3.1. Đau bụng cấp ngoại khoa
   - Thủng ruột do thương hàn:
      + người bệnh  đang điều trị hoặc theo dỏi bệnh thương hàn, đột nhiên đau dữ dội ở bụng.
 
      + Tình trạng sốc: mạch nhanh, nhiệt độ hạ đột ngột( phân ly mạch nhiệt độ)
      + Khám bụng có phản ứng co cứng, gỏ mất vùng đục trước gan ; xquang thấy liềm hơi.
Hiện nay biến chứng này ít găp
  - Tắc ruột:
      + Đau quặn bụng từng cơn
      + Bụng chướng to dần, nôn nhiều, bí trung đại tiện
      + Khám thấy các quai ruột nổi cuộn( triệu chứng gắn bò)
      + xquang thấy mức nước hơi và hơi ở các quai ruột.
Ngoài ra còn có một số đau bụng ngoại khoa khác như: lồng ruột, xoắn ruột, nhồi máu mạc treo, viêm túi thừa Micken; viêm màng bụng cấp do lao, vi khuẩn…
 1.3.2. Đau bụng cấp nội khoa
  - đau bụng giun:các loại ký sinh vật tiêu hóa đều có thể gây đau bung kèm theo rối loạn tiêu hóa, hay găp nhất là đau bụng do giun đũa có đặc điểm là:
     + Đau quanh vùng rốn
     + buồn nôn và nôn
     + trong tiền sữ người bệnh có nhiều giun
     + thữ phân thấy nhiều trứng giun
 - Đau bụng do viêm ruột cấp:Do ăn phải thức ăn bị nhiểm khuẩn, nhiểm độc
     + Gây những cơn đau bụng, nôn, ỉa nhiều lần.
     + những dấu hiệu nhiểm khuẩn hoặc nhiểm độc kèm theo
     + Tình trạng mất nước nhanh chóng có thể dẩn đến tình trạng trụy tim mạch
 -  Cơn đau quặn thận: Hay gặp nhất là do sỏi thận, nhất là ở sỏi niệu quản
     + Đau dữ dội vùng thận xuát hiện sau khi vận động nhiều
     + Đau lan xuống dưới, đến bộ phận sinh dục hoặc bẹn
     + Thường kèm theo các rối loạn tiết niệu khác như đái ra máu, đái buốt
 - Đau bụng do nhiểm độc chì: Những người tiếp xúc với chì lâu ngày, bị nhiểm độc, có thể xuất hiện những cơn đau bụng kèm theo những dấu hiệu nhiểm độc khác ( thiếu máu, viêm nhiều dây thần kinh…) Đáu bụng ở đây có đặc điểm là:
 + Đau bụng dữ dội lan rộng khắp bụng nhưng bụng mềm không có điểm đau rỏ rệt
 + Các rối loạn khác: Táo bón kéo dài , quanh chân răng thấy nền xanh, tỷ lệ chì trong máu trong nước tiểu tăng cao
   - Đau bụng do dị ứng: Thường găp nhất là bệnh Shoeleinhenoch, người bệnh thường trẻ tuổi (Thiếu niên)
       + Đau bụng dữ dội và đột ngột, có khi đau rất nhiều,gây phản ứng thành bụng, bụng chướng có thể nhầm với một tình trạng cấp cứu ngoại khoa.
       + Tiêu chảy có khi tiêu phân đen
       + Bao giờ cũng đau sưng các khớp chảy máu dưới da thành nhiều kiểu các nốt máu ở dưới chi dưới, nhất là quanh các khớp cổ chân và đàu gối.
  -Đau bụng do thiếu can xi (suy cận giáp trạng,ăn thiếu can xi, mất nhiều can xi…)
       + Đau bụng dữ dội kèm ỉa lỏng do các cơ trơn của dạ dày và ruột bị co
       + Bao giờ cũng có biểu hiện ở các chi gây nên những cơn co cứng  ( bàn tay đở đẻ, bàn chân đạp )
      + khám thấy dấu hiệu chvostest và thữ máu thấy can xi giảm
  - Đau bụng ở bệnh nhiểm khuẩn:  một số bệnh nhiểm khuẩn có thể gây đau bụng như cảm, sốt rét, thương hàn. Thường phối hợp với triệu chứng toàn thân và các rối loạn tiêu hóa khác.
 2/.Những nguyên nhân gây nên đau bụng mạn tính
 Gồm những bệnh có cơn đau mãn tính kéo dài hàng tuần,hàng tháng. Ta sẽ không nhắc lại những bệnh có cơn đau kéo dài nhưng có những đợt đau cấp đã tả ở trên như đau loét dạ dày, hành tá tràng, sỏi mật nhiểm độc chì ,giun .
   2.1. Lao ruột:
      - Thường đau âm ỉ ở vùng manh tràng ( hố chậu phải)
      - Có hội chứng bán tắc ruột koenig và các rối loạn đại tiện
      - kèm theo dấu hiệu nhiểm lao ở các bộ phận khác
   Muốn xác định cần chụp xquang đại tràng
  2.2. Viêm đại tràng mạn tính:
     - Đau quặn từng cơn dọc đại tràng
     - kèm theo các rối loạn đại tiện : Bón, lỏng, ra máu và nhầy
  2.3. Viêm màng bụng do lao:
     - Hoặc đau bụng âm ỉ , rối loạn tiêu hóa , khám bụng thấy màng bụng dính từng đám  gõ: chổ đục chổ trong ( thể bả đậu)
     - hoặc đau quặn từng cơn, có dấu hiệu bán tắc ruột (thể xơ dính)
  2.4 Viêm buồng trứng hay phần phụ sinh dục mạn tính:
    - Đau âm ỉ vùng hố chậu hay hạ vị
    - Rối loạn kinh nguyệt, ra huyết trắng
  2.5. Các khối u ở bụng:
   Ung thư dạ dày, ruột, gan, tụy tạng …đều có thể gây đau bụng, có khi là nhưng khối u ở các nơi khác di căn đến vùng bụng cũng gây đau. phát hiện bằng khám lâm sàng và chụp Xquang.
VI. kết luận:
      Đau bụng  là một triệu chứng có rất nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên, do đó đứng trước một người bệnh đau bụng, cần phải thăm khám kỹ lưỡng đễ phát hiện nhanh chóng những trường hợp ngoại khoa, kịp thời xữ trí phẩu thuật,tránh những hậu quả nguy hiểm cho người bệnh. Trong những trường hợp nghi ngờ cần phải theo dỏi cẩn thận và liên tục , làm thêm các xét nghiệm cận lâm sàng và tranh thủ các ý kiến của những người làm công tác ngoại khoa chuyên môn.
   Ngoài ra đối với nhưng bệnh gây nên những cơn đau bụng cấp nội khoa, cũng cần phải chẩn đoán kịp thời đẻ có thái độ xữ trí ,tránh tình trạng đau đớn keo dài cho người bệnh.
 

Nguồn tin: Khoa nội tiêu hóa

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Liên Kết Website
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây